- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 109 /2023/HNGĐ-ST Ngày 18-9-2023 “V/v Ly hôn giữa chị H và anh Q” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Trần Thị Mộng Lành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 324/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị H, sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu phố n, thị trấn T, huyện An B, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Danh Quang Q, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khu phố n, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Thị H trình bày như sau:
Chị H và anh Q tự nguyện kết hôn được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 22/5/2015.
Vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh anh Q thường tham gia các tệ nạn xã hội như lo ăn chơi, tham gia cờ bạc khi vợ có ý kiến thì vợ chồng thường xảy ra cự cãi bất hòa và sau đó anh Q có hành vi bạo lực hành hung đánh đập, chửi mắng vợ. Tình trạng hôn nhân của vợ chồng không được cải thiện mặc dù chị H đã nhiều lần khuyên ngăn anh Q vì vậy vợ chồng đã tự ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với với anh Q.
Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có hai người con chung tên Danh Anh T, sinh ngày 24/8/2008 (đã chết ngày 04/6/2023) và Danh Dĩ T, sinh ngày 15/04/2015. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Danh Dĩ T và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 2.000.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại phiên tòa chị Hằng tiếp tục xin ly hôn, xin được nuôi cháu Danh Dĩ T không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung xác định không có, không yêu cầu.
Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Danh Quang Q vắng mặt không có yêu cầu phản tố và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Hg.
Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Danh Dĩ T, sinh ngày 15/4/2015 có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
Việc thu thập chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (Bản công chứng); giấy khai sinh của con chung vợ chồng (bản công chứng); Bị đơn không cung cấp chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Q. Không có kiến nghị về phần thủ tục tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn với anh Q; về con chung giao cháu Danh Dĩ T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con chung, ghi nhận ý kiến của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa anh Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh Q.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ pháp luật: Chị H yêu cầu ly hôn với anh Q và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Chị H và anh Q chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua ý kiến trình bày của chị H và việc xác minh từ địa phương thể hiện trong quá trình chung sống giữa chị Hvà anh Q đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q hay tụ tập chơi bời, tham gia cờ bạc và có hành vi bạo lực gia đình chửi mắng đánh đập vợ, đời sống vợ chồng xảy ra nhiều bất hòa mặc dù chị H đã tìm cách hàn gắn nhưng tính tình anh Q không thay đổi và tình trạng hôn nhân không được cải thiện. Anh chị đã tự ly thân từ năm 2021 cho đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và mỗi người đều đã tự tạo lập cho mình một cuộc sống riêng. Tòa án đã nhiều lần mở cuộc hòa giải đoàn tụ nhưng anh Q không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Chị H tự xác định vợ chồng có hai người con chung tên Danh Anh T, sinh ngày 24/8/2008 (Đã chết ngày 04/6/2023) và Danh Dĩ T, sinh ngày 15/04/2015. Nhận thấy từ khi anh chị ly thân đến nay cháu Danh Dĩ T sống với mẹ có cuộc sống ổn định phát triển bình thường, hiện tại chị H lao động có thu nhập để đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Danh Dĩ T, sinh ngày 15/4/2015 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng sau khi chị H và anh Q ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến chị H không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung của vợ chồng: Chị H xác định không có, không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị H là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;
- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị H.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thị H và anh Danh Quang Q.
2. Về con chung: Giao cháu Danh Dĩ T, sinh ngày 15/04/2015 cho chị Thị H nuôi dưỡng sau khi chị Thị H và anh Danh Quang Q ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Thị H không yêu cầu anh Danh Quang Q phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.
4. Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên không xem xét.
5. Về án phí: Chị Thị H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003806 ngày 22/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Thị H đã nộp đủ án phí.
6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - THADS huyện; - Các đương sự; - UBND thị trấn T; - Lưu, HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đinh Thị Thơm |