- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2022/HSST Ngày: 29/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến, bà Phan Thị Nhụ
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hòa – Thư ký TAND huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Phùng Đắc Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149 /2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Lang Văn L, sinh năm 1995.
HKTT: Bản Xăng Cọc, xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái ; Tôn giáo; Không; Con ông Lang Văn Phú và bà Vi Thị Hà; Có vợ là: Lê Thị Hạnh; Có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không
- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2022 đến nay.(Có mặt tại phiên tòa).
2. Sầm Văn T, sinh năm 1996.
HKTT: Bản Xăng Cọc, xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái ; Tôn giáo; Không; Con ông Sầm Văn Luyên và bà Vi Thị Hồng; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không
- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2022 đến nay.(Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho hai bị cáo L và T: Ông Nguyễn Văn Hải – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài L có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 01/4/2022, tại thôn Do Nha, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã Phương Liễu, huyện Quế Võ phối hợp quần chúng nhân dân bắt quả tang Sầm Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tiến Dương, sinh năm 1997, HKTT: thôn Mao Lai, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Dương 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng (Dương khai nhận là ma túy vừa mua của T); thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của T đang mặc 200.000 đồng (T khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho Dương).
Cùng ngày 01/4/2022, Lang Văn L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ (Sau đây gọi tắt là Cơ quan điều tra) đầu thú khai nhận số ma túy T bán cho Dương là của L đưa cho T để T mang bán cho Dương lấy 200.000 đồng.
Ngày 01/4/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Lang Văn L và Sầm Văn T thu giữ:
+ Phòng trọ của Sầm Văn T: Không thu giữ gì.
+ Phòng trọ của Lang Văn L: Thu giữ trong tủ quần áo của L 03 gói giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M và 01 cân tiểu ly màu trắng đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 284/KLGĐMT-PC09 ngày 03/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
+ Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) phong bì thư không ký hiệu có khối lượng là 0,0789 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine;
+ Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu M có khối lượng là 0,2016 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine;
* Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất (BL: 61).
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và chứng cứ, tài L do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:
Khoảng 00 giờ ngày 28/3/2022, L đi chơi tại khu vực đầu thôn Do Nha, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh gặp và mua của người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi 300.000 đồng tiền ma túy Heroine được 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trằng. Sau khi mua được ma túy L mang về phòng trọ tại thôn Do Nha, xã Phương Liễu chia nhỏ ra 04 gói giấy bạc màu trắng khác rồi cất giấu trong tủ quần áo mục đích ai hỏi mua thì bán (L thuê trọ một mình).
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 01/04/2022, L đang ở phòng trọ của L thì Dương điện thoại cho L nói “anh còn đồ không bán cho em hai trăm trắng”, ý hỏi mua 200.000 đồng ma túy heroine, L đồng ý và bảo Dương đến khu vực cửa nhà văn hóa gần hồ thôn Do Nha, xã Phương Liễu để giao ma túy. Sau khi nghe điện thoại xong, L nói với T (T thuê cùng khu trọ và là anh họ của L đang chơi ở phòng L) “tý anh mang đồ ra bờ hồ bán cho người thanh niên, lấy hai trăm”, ý bảo T mang ma túy ra bờ hồ thôn Do Nha bán cho Dương lấy 200.000 đồng, đồng thời lấy 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng trong tủ quần áo đưa cho T, T biết là ma túy cầm đút vào túi quần phía trước bên trái T đang mặc. Sau đó, T lấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, BKS: 37F1 - 039.00 của T để mang ma túy ra bờ hồ bán thì L nói “để L đi cùng”. T điều khiển xe mô tô chở L từ phòng trọ ra khu vực bờ hồ thôn Do Nha thì gặp Dương, Trần Minh Quang, sinh năm 2003 và Nguyễn Xuân Quý, sinh năm 2003 cùng trú tại: Khu 5, xã Xuân Án, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, Dương đưa cho T 200.000 đồng (gồm 01 tờ tiền pôlyme mệnh giá 200.000 đồng), T cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên phải T đang mặc đồng thời đưa cho Dương 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thì bị bắt quả tang, quá trình bắt quả tang thì L đã bỏ chạy thoát.
* Thu giữ đồ vật, tài L:
+ Thu giữ của Sầm Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, đều đã qua sử dụng.
+ Thu giữ của Lang Văn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 05/5/2022, Cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius nêu trên cho chủ sở hữu là của anh Vi Văn Hiếu, sinh năm 1977; trú tại: Bản Đan, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An là cậu ruột của T.
* Tiến hành kiểm tra điện thoại của Sầm Văn T và Lang Văn L: Không phát hiện nội dung liên quan tới hành vi mua bán trái phép chất ma túy giữa L, T với Nguyễn Tiến Dương
Quá trình điều tra, L và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 80/CT-VKSQV ngày 05/7/2022 của VKSND huyện Quế Võ đã truy tố Lang Văn L và Sầm Văn T về tội “Mua trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay hai bị cáo L và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nêu trên. Các bị cáo đều xác định hành vi của mình là phạm tội và hứa sẽ cải tạo tốt, không tái phạm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã đề nghị HĐXX:
Tuyên bố các bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 (áp dụng riêng khoản 2 đối với bị cáo L) Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt Lang Văn L từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022.
Xử phạt Sầm Văn T từ từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho cả hai bị cáo.
* Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật còn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly mầu trắng đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng;
- Trả lại bị cáo Sầm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh,; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh.
* Về án phí: Miến án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T.
Bào chữa cho cả hai bị cáo L và T, ông Nguyễn Văn Hải đồng ý việc VKSND huyện Quế Võ truy tố hai bị cáo L và T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Tuy nhiên, do L không được đi học, không biết chữ nên đề nghị HĐXX cho L hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội do lạc hậu” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, do L, T đều thuộc hộ nghèo và cư trú tại địa bàn khó khăn, nên đề nghị HĐXX áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS cho cả hai bị cáo để cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo.
Đối đáp với lời bào chữa trên của người bào chữa, đại diện VKSND huyện Quế Võ cho rằng: Tại phiên tòa, L xác định bản thân đã được tuyên truyền về tác hại của ma túy, biết rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nên L phạm tội không không thuộc trường hợp “phạm tội do lạc hậu”; ngoài ra, khi cân nhắc đề xuất về mức hình phạt chính, VKS cũng đã cân nhắc đến hoàn cảnh khó khăn của cả hai bị cáo. Vì vậy, không chấp nhận áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho hai bị cáo như đề nghị của người bào chữa.
Các bị cáo L, T nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài L trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, trưng cầu giám định, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài L điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
Về nội dung:
Lời khai nhận tội của hai bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai của bị cáo, người chứng kiến và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 01/04/2022, tại thôn Do Nha, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Sầm Văn T và Lang Văn L có hành vi bán trái phép 0,0789 gam Heroine cho Nguyễn Tiến Dương lấy số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra, L còn có hành vi tàng trữ 0,2016 gam Heroine tại phòng trọ của Liễu với mục đích để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép là 0,2805 gam Heroine; bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép là 0,0789 gam Heroine.
Do vậy, bị cáo Lang Văn L và bị cáo Sầm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đúng như Cáo trạng của VKSND huyện Quế Võ đã truy tố.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì thấy:
Bị cáo L chủ mưu mua ma túy về chia nhỏ để bán cho các đối tượng có nhu cầu, trực tiếp trao đổi việc mua bán trái phép ma túy với Dương và đi cùng bị cáo T đề bán trái phép chất ma túy. Do vậy, L có vai trò chính trong vụ án này.
Bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi bán ma túy cho người thanh niên tên Dương theo chỉ đạo của L, nên có vai trò thứ yếu.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tại cơ quan điều tra và phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo L đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với đề nghị của người bào chữa của hai bị cáo, HĐXX thấy rằng, tại phiên tòa bị cáo L xác định bản thân đã được tuyên truyền về tác hại của ma túy, biết rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nên L phạm tội mua bán trái phép ma túy không phải do lạc hậu, vì vậy, đề nghị này của người bào chữa là không có căn cứ; đối với việc L và T thuộc hộ nghèo, cư trú tại vùng khó khăn, HĐXX sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt bổ sung và án phí cho hai bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích thu lợi bất chính. Tuy nhiên, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung là hình phát tiền cho các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với số tiền 200.000 đồng mà các bị cáo thu lời bất chính do bán trái phép ma túy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 cân tiểu ly, bị cáo L mua về với mục đích để chia ma túy nhưng chưa sử dụng, có giá trị nhỏ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với mẫu vật Heroine hoàn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6Plus, L dùng để liên lạc bán trái phép ma túy, là công cụ phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 của T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
- Đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius, quá trình điều tra, xác định T mượn của cậu ruột là anh Vi Văn Hiếu, anh Hiếu không biết T sử dụng xe làm phương tiện đi bán trái phép ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra trả lại anh Hiếu chiếc xe này là đúng quy định.
Liên quan đến vụ án này:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lang Văn L, L không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể ở đâu, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Tiến Dương là người mua ma túy của L và T (Dương không quen biết L và T). Quá trình lấy lời khai tại trụ sở Công an xã Phương Liễu, huyện Quế Võ lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh trên địa bàn xã Phượng Mao, huyện Quế Võ không có ai có tên, tuổi và lý lịch như Dương khai. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Minh Quang và Nguyễn Xuân Quý là người đi cùng Nguyễn Tiến Dương đến thôn Do Nha, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ. Anh Quang và anh Quý không biết việc Dương đi nhờ xe đến thôn Do Nha là để mua ma tuý. Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng Nguyễn Tiến Dương dùng liên lạc với Lang Văn L để mua ma tuý. Dương khai quá trình bắt giữ đã làm rơi mất. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm vật chứng. Khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T thuộc hộ nghèo, đều có đề nghị Tòa án miễn án phí. Vì vậy, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo..
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 (áp dụng riêng khoản 2 đối với bị cáo L) Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 136, 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt Lang Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022.
Xử phạt Sầm Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2022.
Quyết định tạm giam các bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T mỗi người 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
* Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì bên ngoài có dấu đỏ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và chữ ký của những người tham gia niêm phong.
- Tịch thu sung tiêu hủy 01 cân tiểu ly mầu trắng đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám, số Model A1687 FCCID:BCG-E2944A IC:579C-E2944A đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng
- Trả lại bị cáo Sầm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh, số Imel 1: 860671057568898; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh, số IMel: 352025043253906.
Theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/7/2022 giữa Công an huyện Quế Võ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ và Biên lai thu tiền số 0003415 ngày 06/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ.
* Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo Lang Văn L và Sầm Văn T.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Quế Võ; - Công an huyện Quế Võ; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh; - Chi cục THADS huyện Quế Võ; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; Lưu HS, VT; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Quang Tuyến Phan Thị Nhụ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |