- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2022.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2022/HS-ST Ngày: 25-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. Bà Đinh Kim Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2022/HSST-QĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Minh H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1967 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 44/10A Khu phố M, phường T, Quận 7, TP. HCM; Nơi cư trú: 450/28G Đường D, Phường M, Quận 8, TP. HCM; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Đỗ Thị Nh, sinh năm 1938; Hoàn cảnh gia đình: Vợ là Mai Ngọc D, sinh năm 1963, có 01 con sinh năm 1989; Anh chị em: Có 01 người anh sinh năm 1963.
Tiền sự: Không
Tiền án: Không
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2022 đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 6/2021, do cần tiền tiêu xài, Trần Minh H đã mua ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực Bến xe Miền Đông để bán lại kiếm lời. Mỗi lần, H mua 10 viên thuốc lắc với giá 200.000 đồng/viên và một hộp 5 ma túy Ketamine với giá 4.200.000 đồng. Sau khi mua, H bán lại cho người sử dụng ma túy qua số điện thoại và mạng Zalo có tên “Tran Trung” kiếm tiền lời 50.000 đồng/viên, còn hộp 5 ma túy Ketamine H chia thành 8 gói nhỏ bán giá 900.000 đồng/gói. Số tiền thu lợi được do bán ma túy là 21.000.000 đồng H tiêu xài cá nhân và dùng mua ma túy để sử dụng cho bản thân.
Ngày 07/5/2022, H đi mua 10 viên ma túy dạng thuốc lắc và một hộp 5 ma túy Ketamine mang về nhà chia thành 02 nửa hộp 5 ma túy, phân chia 01 nửa hộp 5 ma túy thành 04 gói ma túy nhỏ. H đã bán được 01 gói nhỏ ma túy và sử dụng hết 01 gói ma túy Ketamnie, 01 viên thuốc lắc cho bản thân. Đến khoảng 23 giờ 50 phút ngày 10/5/2022, một người tên “L” (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho Trần Minh H đặt mua 04 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy Ketamine, H báo giá tổng cộng là 1.900.000 đồng. “L” đồng ý và hẹn H giao ma túy tại trước số 39-39B Đường B, Phường M, Quận 4. Khi đi bán ma túy cho “L”, ngoài số ma túy bán cho L được H bỏ vào trong 01 gói giấy, H còn mang theo trong người 01 nửa hộp 5 ma túy Ketamine, 01 gói ma túy nhỏ và 05 viên thuốc lắc còn lại đựng trong gói giấy khác để bán khi có người gọi hỏi mua.
H điều khiển xe máy biển số 59L2-268.71 đến điểm hẹn, khi đang đứng chờ “L”, thì tổ tuần tra Công an Quận 4 tuần tra địa bàn, phát hiện H có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Lúc này, H bước xuống xe dùng tay phải ném xuống đất 01 gói giấy bên trong, có 01 gói nylon chứa nhiều gói nylon và viên nén, tổ tuần tra Công an Quận 4 nghi vấn là ma túy, nên tiến hành thu giữ và đưa H về trụ sở Công an Phường M, Quận 4 lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 45-48).
Tại Kết luận giám định số 2753/KLGĐ-H ngày 17/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận (Bút lục 42, 43):
-02 viên nén màu H và nhiều mảnh vỡ viên nén màu H (m1) có khối lượng 2,0114g, loại MDMA;
-01 gói nylon bên ngoài có dán băng keo xanh, chứa tinh thể không màu (m2) có khối lượng 0,25717 gam, loại Ketamine;
-01 gói nylon bên ngoài dán băng keo màu xanh lá, chứa 02 viên nén màu H và nhiều mảnh viên nén màu H (m3) có khối lượng 2,4811 gam, loại MDMA;
-01 gói nylon bên ngoài dán băng keo màu xanh lá, chứa tinh thể không màu (m4) có khối lượng 2,2259 gam, loại Ketamine;
-01 gói nylon bên ngoài dán băng keo màu xanh dương, chứa tinh thể không màu (m5) có khối lượng 0,5879 gam, loại Ketamine.
Tổng khối lượng 4,4925 gam MDMA và 3,3855 gam Ketamine.
Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Trần Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (Bút lục 114-125).
Đối với người đàn ông tại khu vực Bến xe Miền Đông bán ma túy cho H để H mang đi bán kiếm lời, Cơ quan điều tra Công an Quận 4 không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở để xử lý.
Vật chứng vụ án và đồ vật thu giữ của H:
- 04 (Bốn) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh H, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương (H sử dụng liên lạc mua bán ma túy);
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX (H sử dụng liên lạc mua bán ma túy);
- 01 (Một) xe máy hiệu YAMAHA GRANDE, màu đen, biển số: 59L2-26871. Qua xác minh, xe trên do ông Nguyễn H đứng tên chủ sở hữu, H đã mua xe trên của ông H (có Hợp đồng công chứng), H sử dụng đi giao ma túy;
- 01 (Một) giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn H; 01 hợp đồng mua bán xe máy;
- 01 (Một) căn cước công dân số mang tên Trần Minh H.
- Tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo H khai có 2.800.000 đồng là tiền lợi nhuận thu từ việc bán ma túy, 2.200.000 đồng là H chạy xe mướn và được khách trả tiền;
- Tiền USD: 04 tờ mệnh giá 100USD (là tiền cá nhân của H).
Tất cả vật chứng nêu trên đã được nhập vào Kho vật chứng thuộc Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 4, tạm gửi tiền vào kho bạc Nhà nước đề nghị chuyển Tòa án nhân dân Quận 4 giải quyết (Bút lục 43A, 62, 62A).
Tại Bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 28/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Trần Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Minh H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 28/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Trần Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Minh H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu, hủy 04 (Bốn) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh H, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương bị cáo H sử dụng liên lạc mua bán ma túy;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX bị cáo H sử dụng liên lạc mua bán ma túy;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) xe máy hiệu YAMAHA GRANDE, màu đen, biển số: 59L2-2687101; (Một) giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn H; 01 hợp đồng mua bán xe máy. Qua xác minh, xe trên do ông Nguyễn H đứng tên chủ sở hữu, H đã mua xe trên của ông H (có Hợp đồng công chứng), bị cáo H sử dụng đi giao ma túy;
- Trả lại cho bị cáo H 01 (Một) căn cước công dân số mang tên Trần Minh H.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 5.000.000 đồng là tiền bị cáo H bán ma túy;
- Trả lại cho bị cáo H 04 tờ mệnh giá 100USD là tiền cá nhân của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội.
Phần tranh luận: Bị cáo Trần Minh H không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Trần Minh H xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối cH với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 23 giờ 50 ngày 10/5/2022, tại trước số 39-39B Đường B, Phường M, Quận 4, Tổ tuần tra Công an Quận 4 phát hiện, bắt quả tang Trần Minh H có hành vi cất giữ ma túy có khối lượng 4,4925 gam, là ma túy ở thể rắn, loại MDMA và 3,3855 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, nhằm mục đích mua bán.
Căn cứ Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, khối lượng mua bán 02 chất ma túy của bị can H là 106,77%, nên hành vi của bị cáo Trần Minh H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất ma túy. Để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm cần có mức án tương xứng để xử phạt. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- 04 (Bốn) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh H, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu, hủy;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương bị cáo H sử dụng liên lạc mua bán ma túy là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX bị cáo H sử dụng liên lạc mua bán ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (Một) xe máy hiệu YAMAHA GRANDE, màu đen, biển số: 59L2-2687101; (Một) giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn H; 01 hợp đồng mua bán xe máy của bị cáo H sử dụng đi giao ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (Một) căn cước công dân số mang tên Trần Minh H cần trả lại cho bị cáo H.
- Số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo H khai có 2.800.000 đồng là tiền lợi nhuận thu từ việc bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, còn 2.200.000 đồng là tiền bị cáo H chạy xe mướn và được khách trả tiền không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.
- 04 tờ mệnh giá 100USD là tiền cá nhân của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 04 (Bốn) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh H, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) xe máy hiệu YAMAHA GRANDE, màu đen, biển số: 59L2-26871;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn H; 01 hợp đồng mua bán xe máy;
- Trả lại cho bị cáo H 01 (Một) căn cước công dân số mang tên Trần Minh H.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 2.800.000 đồng là tiền lợi nhuận thu từ việc bán ma túy;
- Trả lại cho bị cáo Trần Minh H 2.200.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo H.
- Trả lại cho bị cáo Trần Minh H 04 tờ mệnh giá 100USD là tiền cá nhân của bị cáo H.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022 giữa Công an Quận 4 với Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4; Giấy chứng nhận nộp tiền vào kho bạc nhà nước ngày 09/9/2022; Giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước tháng 9/2022).
Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - Bị cáo; (1) - CA TP.HCM (PV 06); (2) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - VKSND Quận 4; (2) - Công an Quận 4; (2) - Chi cục THADS Quận 4; (1) - Lưu VT, hồ sơ. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc Bình |