- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Nhật T - bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2022/HS-ST Ngày: 21-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải và bà Lê Thị Nhớ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến được kết nối giữa điểm cầu Trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng với điểm cầu Thành phần đặt tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng, để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên toà số: 82/2022/HSST-QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022, Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 82/2022/HSST-QĐ ngày 20 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Hồ Nhật T - sinh ngày: 30/5/1989 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Số 12 đường T, tổ 58, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông Hồ Quang A (c) và bà Đoàn Thị Bích M (s); vợ con: Chưa; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 22 tháng 4 năm 2019 bị Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng ra bản án số: …/2019/HS-ST xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt và về lại địa phương ngày 27 tháng 8 năm 2020.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng, có mặt tại điểm cầu Thành phần.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đào T1 – sinh năm: 1965; nơi cư trú: Số 457 đường V, phường H, quận K, thành phố Đà Nẵng; được triệu tập tham gia phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm, vắng mặt tại phiên toà.
+ Bà Đoàn Thị Bích M – sinh năm: 1968; nơi cư trú: Số 12 đường T, tổ 58, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng; được triệu tập tham gia phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm, có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu Thành phần gồm có:
+ Ông Nguyễn Văn T1 và ông Huỳnh Như L - Cán bộ Chiến sĩ Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng (giám sát bị cáo tại điểm cầu Thành phần).
+ Ông Nguyễn Văn C – Cán bộ chiến sỹ Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng - hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến tại điểm cầu Thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 27 tháng 05 năm 2022, có một người thanh niên tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc qua điện thoại rủ Hồ Nhật T cùng sử dụng trái phép chất ma tuý tại khách sạn L – tại số 190 đường T, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng, và nói T đi đến khu vực đường T - V để lấy ma túy của một người mà V đã liên hệ mua trước đó với giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) thì T đồng ý. Khoảng 11h30 cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43D1-407.48 đi đến địa điểm V đã chỉ dẫn và gặp một người đàn ông (do V liên hệ trước đó) lấy 04 gói ma túy đá với giá 3.500.000đ nhưng chưa đưa tiền. Sau đó, T cất giấu ma túy mua được trong túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi về khách sạn L để sử dụng ma túy cùng với V. Đến lúc 13 giờ cùng ngày, khi T đi đến trước khách sạn L thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện bắt quả tang, thu giữ 04 (bốn) gói nilong chứa tinh thể màu trắng trong túi quần của T, được niêm phong ký hiệu G1 và các tang vật khác gồm:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43D1-407.48, số khung: RLHJF4614EZ324484, số máy: JF46E70245503;
- 01 (một) nỏ thuỷ tinh;
- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Samsung có số Imei: 356356085116727, gắn sim số: 0777.529.279 và số: 0905.766.010;
- Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).
Tiến hành kiểm tra điện thoại, không phát hiện nội dung nào liên quan đến sự việc mua bán ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Nhật T tại số 12 đường T, tổ 58, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể bằng phương pháp thử test nước tiểu, xác định Hồ Nhật T dương tính với chất ma túy.
Theo Bản Kết luận giám định số: 102/KLMT-KTHS ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: “Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể mẫu G1: 2,595 gam”.
Qua điều tra xác định xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43D1-40748 do ông Đào T1 đứng tên chủ sở hữu. Vào tháng 10 năm 2018, ông T1 bán chiếc xe này cho bà Đoàn Thị Bích M nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Đến ngày 27 tháng 5 năm 2022, bà M cho T (là con ruột) mượn xe để sử dụng nhưng không biết T sử dụng để đi mua ma túy. Nên ngày 06 tháng 7 năm 2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe mô tô cho bà M.
Từ những nội dung trên tại Cáo trạng số: 86/CT-VKS-TK ngày 06 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Hồ Nhật T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 21 (hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số: 102/KLMT-KTHS ngày 03 tháng 6 năm 2022 có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 (một) nỏ thuỷ tinh bị cáo dùng để sử dụng ma tuý;
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Samsung có số Imei: 356356085116727, gắn sim số: 0777.529.279 mà bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội.
+ Trả lại cho bị cáo: số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
+ Đối với xe mô tô biển kiểm soát 43D1-40748, trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Đoàn Thị Bích M, nên Viện kiểm sát không đề nghị xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Bích M trình bày: Tôi mua xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43D1-40748 để làm phương tiện đi lại hàng ngày nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên chủ sở hữu. Vào ngày 27 tháng 5 năm 2022, T nói mượn xe đi công việc nên tôi đồng ý, tôi không biết T sử dụng xe này để đi mua ma tuý. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho tôi nên tôi không có yêu cầu gì. Tôi chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để con tôi sớm được trở về, gia đình tôi chỉ có 02 mẹ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo Hồ Nhật T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Bị cáo Hồ Nhật T là người nghiện ma tuý. Vào khoảng 13 giờ ngày 27 tháng 5 năm 2022, bị cáo cất giữ trong người 2,595 gam ma tuý loại Methamphetamine đi đến khách sạn L tại số 190 đường T, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng để sử dụng cùng người tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch) thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện bắt phạm tội quả tang ngay trước khách sạn L.
Hành vi cất giữ trong người chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng như nêu trên với mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số: 86/CT-VKS-TK ngày 06 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo là người trưởng thành, có đủ nhận thức và hiểu biết về tính nguy hiểm của các chất ma túy đối với sức khoẻ con người và cộng đồng nhưng để thỏa mãn ham muốn của bản thân mà xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn của cộng đồng. Bản thân bị cáo là người đã bị kết án về tội phạm ma tuý chưa được xóa án tích nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp tái phạm, phải chịu tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy đối với bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng mới có hiệu quả về phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, hối lỗi về hành vi phạm tội; gia đình bị cáo có hoàn cảnh thuộc diện khó khăn tại địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử đã xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng đang tạm giữ, cụ thể:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số: 102/KLMT-KTHS ngày 03 tháng 6 năm 2022 có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 (một) nỏ thuỷ tinh bị cáo dùng để sử dụng ma tuý.
Các tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án gồm: 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Samsung có số Imei: 356356085116727, gắn sim số: 0777.529.279 và số: 0905.766.010; và số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).
Đối với xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43D1-40748 là tài sản cá nhân của bà Đoàn Thị Bích M đã mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, bà M cho bị cáo mượn xe để sử dụng nhưng không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy. Vì thế, trong giai đoạn điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe mô tô cho bà M là phù hợp.
Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Trong vụ án này, cơ quan Cảnh sát điều tra còn phát hiện bị cáo Hồ Nhật T sử dụng chất ma tuý trước ngày 27 tháng 5 năm 2022, nên Trưởng Công an quận Thanh, thành phố Đà Nẵng ra quyết định số: 29/QĐXPHC-ĐCSMT ngày 03 tháng 6 năm 2022 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo là đúng quy định.
Đối với người có tên V - là người trực tiếp thoả thuận mua ma tuý để sử dụng cùng với bị cáo và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo hiện nay vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với bà Đoàn Thị Bích M có cho bị cáo mượn xe mô tô để sử dụng nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát không tiến hành xử lý là phù hợp.
Trong giai đoạn điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Như vậy, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Nhật T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 5 năm 2022.
- Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Hồ Nhật T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số: 102/KLMT-KTHS ngày 03 tháng 6 năm 2022 có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 (một) nỏ thuỷ tinh.
Tiếp tục quy trữ các tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng để đảm bảo thi hành án gồm: 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Samsung có số Imei: 356356085116727, gắn sim số: 0777.529.279 và số: 0905.766.010; và số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).
(Tất cả vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/8/2022 và biên lai thu tiền số: 0000806 ngày 09/8/2022)
- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
- Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21/9/2022). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND quận Thanh Khê; - CQCSĐT CA quận Thanh Khê; - CCTHADS quận Thanh Khê; - Bị cáo, đương sự; - Trại tạm giam Hoà Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đức Tuấn |