- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn K, MBMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2022/ HS-ST Ngày 26 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Học và ông Hoàng Văn Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Noọng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 106/2022/TLST - HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2022/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Nông Văn K, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 14/4/2001, tại xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm K, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nông Văn D (sinh năm 1973) và bà Hoàng Thị Ph (sinh năm 1977); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Văn D, sinh năm 1973; trú tại: xóm K, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Nông Văn H, sinh năm 1997; trú tại: xóm Ph, xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
- Hoàng Văn K, sinh năm 1984; trú tại: xóm N, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
- Hà Văn V, sinh năm 1998; trú tại: xóm Đ, xã Đoài Dương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
- Hoàng Văn Nh, sinh năm 1980; trú tại: xóm N, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
(Đều vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 06 giờ 45 phút, ngày 20/5/2022, Công an xã Trung Phúc phối hợp với Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành kiểm tra hộ khẩu nhà anh Nông Văn D, sinh năm 1973 (là chủ hộ) trú tại xóm K, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, phát hiện Nông Văn K, sinh năm 2001 (là con trai anh D) có biểu hiện nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành khống chế, kiểm tra phát hiện: K đang ngồi trên giường ngủ của mình. Gần chỗ K đang ngồi có 01 (một) gói giấy bao thuốc lá màu trắng, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng có chứa chất bột màu trắng, K khai nhận là ma túy, loại Heroine; Phát hiện trên đầu giường 02 (hai) con dao lam có bám dính chất bột màu trắng; trên giường 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng, màu đen - xanh, số IMEI1: 864326053986539; IMEI 2: 864326053986521, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ những đồ vật có liên quan. Sau đó tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và phương tiện đối với Nông Văn K. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ: Trong cốp xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, NOUVO biển kiểm soát 20B1 - 247.xx có số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng); Phát hiện trong phòng ngủ dưới bếp có 01 (một) mảnh ni lông màu trắng được cắt sẵn hình tròn; 01 (một) chiếc lọ nhựa trắng có nắp vặn màu trắng, ngoài lọ nhựa được cuộn lớp ni lông màu đen và buộc bằng dây nịt màu vàng; 01 (một) mảnh giấy màu trắng có nền chữ in màu đen, mảnh giấy bị cắt, xé nham nhở.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng vụ án, lấy mẫu giám định. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của Nông Văn K có khối lượng 0,09g (không phẩy không chín gam). Tại bản kết luận giám định số 100/GĐMT ngày 30/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn K khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2015, hình thức sử dụng là chích. Từ tháng 2 năm 2022 cho đến ngày bị bắt, K đã bán ma túy cho:
Bán ma túy cho Nông Văn H, sinh năm 1997, trú tại xóm Ph, xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh 01 (một) gói với số tiền 100.000 (một trăm nghìn đồng) vào ngày 17/5/2022;
Bán ma túy cho Hoàng Văn K, sinh năm 1984, trú tại xóm N, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh 02 (hai) lần, mỗi lần 01 (một) gói với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) vào ngày 17/5/2022 và ngày 18/5/2022;
Bán ma túy cho Hà Văn V, sinh năm 1998, trú tại xóm Đ, xã Đoài Dương, huyện Trùng Khánh 01 (một) gói với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn đồng) vào tối ngày 19/5/2022;
Bán ma túy cho Hoàng Văn Nh, sinh năm 1980, trú tại xóm N, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh 01 (một) gói với số tiền 200.000 (hai trăm nghìn đồng) vào tối ngày 19/5/2022;
Ngoài ra, K còn bán ma túy cho nhiều người không biết tên và địa chỉ. Địa điểm bán ma túy ngay tại trước cửa và trong nhà K, tại xóm K, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh.
Nguồn ma túy có để bán do Nông Văn K trực tiếp đến xóm L, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh mua với một người đàn ông không quen biết 02 (hai) lần, mỗi lần 1.000.000đ (một triệu đồng) vào các ngày 16 và 19/5/2022. Mục đích mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời.
Lời khai của Nông Văn K phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám khám xét khẩn cấp, kết luận giám định, kết quả cân khối lượng Heroine và những vật chứng, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Toàn bộ số vật chứng bị tạm giữ đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSTK ngày 03 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Nông Văn K ra trước Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nông Văn K thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với khoản tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo là tiền do bị cáo mua bán ma túy có được; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng, màu đen - xanh, số IMEI1: 864326053986539; IMEI 2: 864326053986521, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị cáo có được sử dụng để trao đổi mua bán ma túy với V và một số đối tượng nghiện khác; 02 (hai) dao lam, 01 (một) lọ nhựa, 01 (một) mảnh ni lông màu trắng được cắt sẵn, 01 (một) mảnh giấy màu trắng bị cáo sử dụng để tách và gói ma túy.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Văn D trình bày: Khoản tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) để trong cốp xe bị thu giữ là tiền của K, không phải là tiền của ông; tiền mua xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, NOUVO biển kiểm soát 20B1 - 247.xx là của con gái mua cho ông, ông không biết K sử dụng xe để thực hiện hành vi mua bán ma tuý trái phép. Ông đã nhận lại xe nên không có yêu cầu gì thêm.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K. Xử phạt bị cáo Nông Văn K từ 07 (bảy) năm tù - 08 (tám) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi “vật chứng vụ: Nông Văn K - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại K, Trung Phúc, Trùng Khánh, Cao Bằng ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “02 (hai) dao lam phát hiện, tạm giữ với Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng ; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Lọ nhựa, mảnh ni lông, mảnh giấy phát hiện, tạm giữ đối với Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nông Văn K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
- Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ của Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh; số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng);
- Truy thu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo K do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các lời khai của những người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra về cách thức mua bán ma túy, thời gian, địa điểm cũng như số lần mua bán ma túy đã thực hiện, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo K. Cụ thể: Hồi 06 giờ 45 phút, ngày 20/5/2022, tại nhà riêng Nông Văn D, sinh năm 1973 (bố đẻ K) trú tại xóm K, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Công an xã Trung Phúc phối hợp với Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Trùng Khánh, phát hiện bắt quả tang Nông Văn K, sinh năm 2001, trú tại xóm K, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,09g (không phẩy không chín gam) chất ma túy, loại Heroine. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng và bán. Nông Văn K đã bán ma túy 05 lần cho 04 người thu được số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Ngoài ra, K còn bán ma túy cho nhiều người khác không biết tên và địa chỉ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thưc hiện. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, làm giảm sút sức lao động, hủy hoại đến sức khỏe và trí tuệ của con người, khiến dư luận và nhân dân địa phương bất bình, và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác; xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo K bán ma túy nhiều lần, mỗi lần bán đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Nông Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo K không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên không được coi là có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K; Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm tù - 08 (tám) năm tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các nhận định khác:
Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Nông Văn K khai mua với một người đàn ông không quen biết tại xóm L, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh không có cơ sở để điều tra, xác minh.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi “vật chứng vụ: Nông Văn K - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại K, Trung Phúc, Trùng Khánh, Cao Bằng ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “02 (hai) dao lam phát hiện, tạm giữ với Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng ; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Lọ nhựa, mảnh ni lông, mảnh giấy phát hiện, tạm giữ đối với Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nông Văn K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, do liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy;
- Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ của Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh; số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) do liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy;
- Tại phiên tòa, xác định được bị cáo K đã được bán ma túy 05 (năm) lần cho 04 (bốn) người nghiện ma túy, thu được 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, được trừ đi số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo K nên còn phải truy thu số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Về án phí: Bị cáo Nông Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nông Văn K 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2022;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi “vật chứng vụ: Nông Văn K - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại K, Trung Phúc, Trùng Khánh, Cao Bằng ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “02 (hai) dao lam phát hiện, tạm giữ với Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng ; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Lọ nhựa, mảnh ni lông, mảnh giấy phát hiện, tạm giữ đối với Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nông Văn K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
- Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động tạm giữ của Nông Văn K ngày 20/5/2022”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh; số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng);
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2022.
- Truy thu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo K do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước;
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo Nông Văn K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - VKSND huyện; - Công an huyện; Nhà tạm giữ CATK; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS vụ án; - Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bế Thị Thùy Linh |