vanban.org

Bản án 109/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh L: 02 (hai) năm 06 (tháng) tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ánh L số tiền 20.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ánh L - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phạm tội “Chứa mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2022/HS-ST.
Ngày: 16/6/2022.

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai ThA Minh.

Bà Phan Thị Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2022/TLST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1968 tại Trà Vinh; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề Ngệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông: Nguyễn Ngọc Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ng; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 03 chị em; Bị cáo có chồng là Trần Văn Đ, sinh năm 1964 (đã ly hôn) và có 01 con chung sinh năm 1988.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2022 đến ngày 08/3/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1981.

Địa chỉ thường trú: ấp Phụng Phụng, xã ThA Tiến, huyện Vĩnh TH, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ hiện nay: Ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

+ Chị Nguyễn Thị Phương Ng (Nhi), sinh năm 1991.

Địa chỉ thường trú: Khóm 4, thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Địa chỉ hiện nay: Ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

+ A DA Hiền A, sinh năm 2002.

Địa chỉ thường trú: Ấp Đường Xuồng, xã Long TH, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ hiện nay: Ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

+ A Đào ThA Tú, sinh năm 1980.

Địa chỉ thường trú: xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ hiện nay: Ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L có mặt, người làm chứng chị Nguyễn Thị Tuyết H, chị Nguyễn Thị Phương Ng (Nhi), A DA Hiền A, A Đào ThA Tú vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019, Nguyễn Thị Ánh L thuê mặt bằng của ông Nguyễn Văn T, (sinh năm 1968, thường trú tại 217 Bến Vân Đồn, phường 2, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh) với diện tích đất 580,90 m2 tọa lạc tại ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai để mở quán Cà phê - Nhậu 417 nhưng thực chất thì từ tháng 01 năm 2021 L sử dụng quán Cà phê - Nhậu 417 để làm địa điểm chứa mại dâm và trực tiếp cho nhân viên làm việc tại quán do L quản lý mua bán dâm tại quán để L thu tiền thuê địa điểm với giá tiền từ 70.000 đồng đến 100.000 đồng/1 lần/ 1 lượt, do tình hình dịch bệnh Covid 19 nên đến tháng 04 năm 2021 L nghỉ hoạt động quán Cà phê - Nhậu 417.

Đến đầu tháng 11 năm 2021 thì L tiếp tục mở quán Cà phê - Nhậu 417 dùng để làm địa điểm chứa mại dâm và trực tiếp cho nhân viên làm việc tại quán do L quản lý mua bán dâm tại quán để L thu tiền thuê địa điểm.

Do có nhu cầu mua dâm nên vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/01/2022, DA Hiền A, (sinh năm 2002 ngụ tại ấp Đường Xuồng, xã Long TH, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang) cùng với Đào ThA Tú, (sinh năm 1980 ngụ tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ) đến quán Cà phê - Nhậu 417 thuộc ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai thì DA Hiền A gặp Nguyễn Thị Phương Ng, (sinh năm 1991 ngụ tại khóm 4, thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) A thỏa thuận mua dâm với Ng giá tiền 300.000 đồng và nếu Ng làm tốt thì A bo thêm 200.000 đồng, Ng đồng ý. Còn Đào ThA Tú thì gặp Nguyễn Thị Tuyết H, (sinh năm 1981 ngụ tại ThA Tiến, Vĩnh TH, thành phố Cần Thơ) Tú thỏa thuận mua dâm với H giá tiền 300.000 đồng, H đồng ý.

Đến 12 giờ 55 phút ngày 07/01/2022, Công an xã Phú Đông tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt quả tang tại quán Cà phê - Nhậu 417 có 02 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm là DA Hiền A với Nguyễn Thị Phương Ng và Đào ThA Tú với Nguyễn Thị Tuyết H. Công an xã Phú Đông đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Ánh L có dấu hiệu tội “Chứa mại dâm” và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng của vụ án:

+ 01 vỏ và ruột bao cao su nhãn hiệu VPT đã qua sử dụng, 02 bao cao su VPT chưa qua sử dụng. Số tiền 500.000 đồng thu giữ từ việc bán dâm của Nguyễn Thị Phương Ng.

+ 01 vỏ và ruột bao su nhãn hiệu VIP đã qua sử dụng, 03 bao cao su VIP chưa qua sử dụng. Số tiền 300.000 đồng thu giữ từ việc bán dâm của Nguyễn Thị Tuyết H.

+ Số tiền 7.000.000 đồng do Nguyễn Thị Ánh L thu lợi bất chính từ hành vi chứa mại dâm tự nguyện giao nộp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, bị cáo Nguyễn Thị Ánh L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSNT, ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ánh L về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh L từ: 02 năm 06 tháng – 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định pháp luật. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ và ruột bao cao su nhãn hiệu VPT đã qua sử dụng, 02 bao cao su VPT chưa qua sử dụng, 01 vỏ và ruột bao su nhãn hiệu VIP đã qua sử dụng, 03 bao cao su VIP chưa qua sử dụng là tang vật vụ án.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị Phương Ng, Nguyễn Thị Tuyết H bán dâm cho khách.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 7.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Nguyễn Thị Ánh L tự nguyện giao nộp.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả trA luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng chị Nguyễn Thị Tuyết H, chị Nguyễn Thị Phương Ng (Nhi), A DA Hiền A, A Đào ThA Tú đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vì đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có cơ sở kết luận: Nguyễn Thị Ánh L mở quán Cà phê - Nhậu 417 thuộc ấp Bến Đình, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai L sử dụng quán làm địa điểm cho nhân viên làm việc tại quán mua bán dâm theo thỏa thuận mỗi lần nhân viên bán dâm phải trả cho L từ 70.000 đồng đến 100.000 đồng. Vào lúc 12 giờ 55 phút ngày 07/01/2022 tại quán Cà phê - Nhậu 417 L dùng địa điểm kinh doA của mình và 02 nhân viên của quán bán dâm cho 02 người, trong đó DA Hiền A với Nguyễn Thị Phương Ng và Đào ThA Tú với Nguyễn Thị Tuyết H đang mua bán dâm thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ánh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Về tính chất, mức độ Ngêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là Ngêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục và trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân dẫn đến các loại tệ nạn làm lây truyền các loại Virus gây bệnh nguy hiểm. Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng vì lười lao động nên bị cáo đã có hành vi sử dụng địa điểm do mình quản lý để người khác bán dâm. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Cha là ông Nguyễn Văn Khởi, ông nội bị cáo là ông Nguyễn Văn Chơn, bác ruột bị cáo là ông Nguyễn Văn Rê là người có công với cách mạng có giấy xác nhận của ban chỉ huy quân sự thị trấn Cầu Ngang, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

. Về mức hình phạt áp dụng: Xét thấy bị cáo phạm tội có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt. Đối chiếu với các quy định tại Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, thì xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Ngoài ra để đảm bảo tính Ngêm minh cần áp dụng khoản 5 Điều 327 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng.

. Đối với hành vi mua dâm của DA Hiền A, Đào ThA Tú và hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Phương Ng, Nguyễn Thị Tuyết H, Công an xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp theo quy định của pháp luật.

. Đối với ông Nguyễn Văn T là chủ đất cho Nguyễn Thị Ánh L thuê đất để mở quán Cà phê - Nhậu 417, không biết việc kinh doA mại dâm của L nên không xử lý.

. Ngoài ra, trong quá trình điều tra Nguyễn Thị Ánh L khai đã nhiều lần thực hiện hành vi chứa mại dâm và thu lợi bất chính số tiền 7.000.000 đồng trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2021 đến trước khi bị bắt quả tang, tuy nhiên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã không chứng minh, làm rõ được người mua dâm cũng như người đã bán dâm tại quán Cà phê - Nhậu 417 nên không có căn cứ xử lý L theo khoản 2, Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp.

. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, cần:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ và ruột bao cao su nhãn hiệu VPT đã qua sử dụng, 02 bao cao su VPT chưa qua sử dụng, 01 vỏ và ruột bao su nhãn hiệu VIP đã qua sử dụng, 03 bao cao su VIP chưa qua sử dụng là tang vật vụ án.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị Phương Ng, Nguyễn Thị Tuyết H bán dâm cho khách.

Đối với số tiền 7.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị Ánh L tự nguyện giao nộp do không có căn cứ xử lý L theo khoản 2, Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên chưa có cơ sở xác định số tiền nêu trên là tiền thu lợi bất chính. Do đó cần tuyên trả lại cho bị cáo L số tiền nêu trên, tuy nhiên để đảm bảo cho việc thi hành bản án thì sẽ tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng mà bị cáo đã giao nộp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phạm tội “Chứa mại dâm”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh L: 02 (hai) năm 06 (tháng) tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ánh L số tiền 20.000.000 đồng.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ánh L cho Ủy ban nhân dân xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị Ánh L cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ và ruột bao cao su nhãn hiệu VPT đã qua sử dụng, 02 bao cao su VPT chưa qua sử dụng, 01 vỏ và ruột bao su nhãn hiệu VIP đã qua sử dụng, 03 bao cao su VIP chưa qua sử dụng là tang vật vụ án.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị Phương Ng, Nguyễn Thị Tuyết H bán dâm cho khách.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Ánh L số tiền 7.000.000 đồng do không liên quan đến vụ án.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị Ánh L đã giao nộp vào ngày 07/01/2022 để đảm bảo Thi hành án.

(Hiện vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2022 và biên lai thu tiền số 0001588 ngày 09/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ánh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Ánh L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ