- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lương Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lương Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lương Văn S 14 (Mười bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày b…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2022/HS-ST Ngày 25 tháng 10 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nga;
Ông La Khăm Ỏn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn S, tên gọi khác: không;
Sinh ngày 05/6/1989 tại xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản X, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Hồng P (đã chết) và bà Lương Thị H; vợ: Lương Thị T (đã ly hôn) con: có 1 người 10 tuổi; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Lương Văn S bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2022 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Văn Th - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Khối B, thị trấn M, huyện KS, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 12/6/2022, Lương Văn S điều khiển xe máy nhãn hiệu Win 100, BKS: 37F7-5996 đi từ nhà tại Bản X, xã HL, huyện KS đến bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, Lương Văn S gặp một người đàn ông không quen biết rồi hỏi mua của người này 02 gói ma túy (Heroine) với số tiền 100.000 đồng. Mua được ma túy, Lương Văn S điều khiển xe máy quay về nhà lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại Lương Văn S gói lại rồi cất dấu vào túi quần.
Đến khoảng 17 giờ ngày 13/6/2022, khi Sơn đang ở khu vực khối B, thị trấn M, huyện KS thì bị tổ công tác Công an xã Tà Cạ phát hiện bắt quả tang thu giữ số tang vật trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 13/6/2022 đã xác định:
- Số chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của đối tượng Lương Văn S
có khối lượng là 0,1g (không phẩy một gam).
Kết luận giám định số 884/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 19/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
- Mẫu chất màu trắng thu giữ của Lương Văn S gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất màu trắng thu giữ của Lương Văn S có khối lượng là 0,1g (không phẩy một gam).
Quá trình điều tra Lương Văn S đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma tuý là để sử dụng.
Về vật chứng của vụ án:
Số ma túy (Heroine) sau khi trích mẫu gửi giám định có khối lượng còn lại 0,05 gam cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu và xe máy nhãn hiệu Win 100, BKS: 37F7-5996 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện KS.
Cáo trạng số: 62/CT-VKS-KS ngày 27/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Lương Văn S về tội: “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn S phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lương Văn S mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy của bị cáo đã bị thu giữ, giải quyết nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố. Như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 13/6/2022, tại khối B, thị trấn M, huyện KS, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã Tà Cạ bắt quả tang Lương Văn S đang có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,1 gam nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội các bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức lối sống và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để mua bán trái phép làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Đối với người đã bán ma túy cho Lương Văn S, quá trình điều tra, xác minh không xác định được danh tính cụ thể của người này nên không có căn cứ xử lý;
Vật chứng vụ án: Số ma túy (heroine) sau khi trích mẫu gửi giám định có khối lượng còn lại 0,05g (không phẩy không năm gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu được niêm phong lại bằng một phong bì thư màu trắng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện KS. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lương Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lương Văn S 14 (Mười bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 13/6/2022).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng, góc trái phía trên có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH NGHỆ AN, CÔNG AN HUYỆN KS” được niêm phong, dán kín Trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên của hai đối tượng Lương Văn S, Ven Văn Nhăn và 05 dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện KS. Bên trong phong bì có chứa 0,05 gam ma túy heroine. Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2022.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lương Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện KS; - Công an huyện KS (Cơ quan điều tra, Cơ quan THA hình sự); - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - Chi cục THA dân sự huyện KS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |