vanban.org

Bản án 109/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thụy Khánh H, xử cho chị Đào Thụy Khánh H và anh Hoàng Ngọc C được ly hôn.

2/ Về con chung: Giao hai con là Hoàng Đào Khánh M, sinh ngày 24/9/2017 và Hoàng Phúc M1, sinh ngày 03/9/2020 cho chị Đào Thụy Khánh H có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Ngọc C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cả hai con là 5.000.000đồng/ 1 tháng. Thời gian cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị H và anh C"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thụy Khánh H, xử cho chị Đào Thụy Khánh H và anh Hoàng Ngọc C được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 16-9-2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Diện

2. Bà Trần Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Duy – là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 337/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thụy Khánh H, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc C, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn chị Đào Thụy Khánh H trình bày: Chị và anh C xây dựng gia đình với nhau năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau trong tính cách, lối sống, cách nuôi dạy con nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, hiện vợ chồng đã tự ly thân. Nay chị H xác định không còn tình cảm với anh C nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Về con chung: Chị H xác định quá trình chung sống có 02 con chung là Hoàng Đào Khánh M, sinh ngày 24/9/2017 và Hoàng Phúc M1, sinh ngày 03/9/2020. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cả hai con, yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 5.000.000đồng/ 1 tháng. Về tài sản chung và nợ chung chị H xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Đơn trình bày ý kiến bị đơn anh Hoàng Ngọc C trình bày: Vợ chồng anh xây dựng gia đình với nhau vào tháng 12/2016, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 01/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau, cho đến nay vợ chồng đã ly thân, trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau do tình cảm không còn. Vì vậy, chị H yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý vì có quay về thì vợ chồng cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Về con chung anh C xác định vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Đào Khánh M, sinh ngày 24/9/2017 và Hoàng Phúc M1, sinh ngày 03/9/2020. Khi ly hôn anh C đồng ý giao cả hai con cho chị H nuôi, anh C đồng ý cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000đồng/ 1 tháng cho cả hai con cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung anh C xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh C vắng mặt nên không hòa giải được và Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho anh C nhưng anh C không có ý kiến gì. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cụ thể: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh C. Về con chung đề nghị giao cả hai con cho chị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000đồng/ 1 tháng. Về án phí: đề nghị buộc chị H, anh C phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị H và bị đơn anh C vắng mặt nhưng cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C xây dựng gia đình với nhau năm 2016 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 15/12/2016. Quá trình vợ chồng chung sống không hòa thuận hạnh phúc nên chị H làm đơn ly hôn. Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng trong lời khai có trong hồ sơ các đương sự cùng xác định do vợ chồng không hợp nhau, hay cãi nhau, không hạnh phúc nên chị H yêu cầu ly hôn và anh C đồng ý. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh C phát sinh là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên hay cãi nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn thì các đương sự không tìm được biện pháp để cải thiện quan hệ tình cảm vợ chồng nên đã tự sống ly thân. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H và anh C được ly hôn.

Về con chung: Các đương sự xác định có 02 con chung là Hoàng Đào Khánh M, sinh ngày 24/9/2017 và Hoàng Phúc M1, sinh ngày 03/9/2020. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi cả hai con còn anh C cũng đồng ý giao con cho chị H nuôi. Vì vậy, giao cả hai con con chung cho chị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị H yêu cầu anh C cấp dưỡng cho cả hai con là 5.000.000đồng/ 1 tháng và anh C đồng ý nên ghi nhận sự tự nguyện của anh C. Buộc anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cả hai con là 5.000.000đồng/ 1 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày án có hiệu lực cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định vợ chồng không có nên không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110; Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thụy Khánh H, xử cho chị Đào Thụy Khánh H và anh Hoàng Ngọc C được ly hôn.

2/ Về con chung: Giao hai con là Hoàng Đào Khánh M, sinh ngày 24/9/2017 và Hoàng Phúc M1, sinh ngày 03/9/2020 cho chị Đào Thụy Khánh H có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Ngọc C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cả hai con là 5.000.000đồng/ 1 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày án có hiệu lực cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3/ Về án phí: Chị Đào Thụy Khánh H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0003441 ngày 10/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị H đã nộp đủ án phí.

Anh Hoàng Ngọc C phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ