vanban.org

Bản án 109/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/03/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng vay tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A
TỈ ĐỒ G T P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2022/DS-PT
Ngày: 30-3-2022
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng
đất; hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

ƯỚC CỘ G A XÃ ỘI C Ủ G ĨA VIỆT AM

TÒA

TỈ ĐỒ G T P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đ t;

Ông Ph m Ng c Giao.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguy n B ch Nga - iểm sát vi n tham gia phiên tòa.

Trong ngày 30/3/2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 482/2020/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2020, về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2020/DS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo uyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 341/2021/ Đ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguy n đơn: Bà Nguy n Thị L, sinh năm 1953; địa ch : ấp H, xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền: Ông Dương Hoàng V, sinh năm 1965; địa ch : ấp N, xã M, huyện C, t nh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 13/11/2020). (Có mặt)

2. Bị đơn:

2.1. Anh Nguy n Minh P, sinh năm 1982

2.2. Chị Phan Thị Hồng Y, sinh năm 1986

Cùng địa ch : Ấp P, xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của anh P, chị Y: Ông Nguy n Minh T, sinh năm 1969; địa ch : Số N, Phường M, thành phố V, t nh Vĩnh Long. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:

3.1. Ông Nguy n Văn C, sinh năm 1944

3.2. Bà Biện Thị T, sinh năm 1948

3.3. Anh Nguy n Minh T, sinh năm 1984

3.4. Chị Nguy n Thị Thúy L, sinh năm 1986

Cùng địa ch : Ấp P, xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của ông C, bà T, anh T, chị L: Ông Nguy n M nh K, sinh năm 1962; địa ch : Số N, Phường M, thành phố V, t nh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

3.5. Bà Nguy n Thị Ánh T, sinh năm 1976; địa ch : Ấp P, xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.6. Bà Nguy n Thị Ánh H, sinh năm 1977; địa ch : Ấp H, xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.7. Chị L Thị Hồng L, sinh năm 1982; địa ch : Ấp H, xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.8. Ủy ban nhân dân huyện C.

Đ i diện theo pháp luật: Ông L Minh T, chức vụ: Chủ tịch. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

4. Người kháng cáo:

Bà Nguy n Thị L - là nguy n đơn.

Anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y - là bị đơn.

Ông Nguy n Văn C, bà Nguy n Thị Ánh T, bà Nguy n Thị Ánh H - là người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan.

ỘI U G VỤ :

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Năm 2015, bà L cho vợ chồng chị Phan Thị Hồng Y và anh Nguy n Minh P vay tiền hai lần như sau:

Ngày 09/02/2015, cho vay 329.000.000đ, lãi suất tự thỏa thuận, thời h n 20 tháng tính từ ngày nhận tiền là ngày 09/02/2015 theo hợp đồng vay tiền ngày 09/02/2015, có công chứng.

Ngày 06/8/2015 cho vay tiếp 330.000.000đ, lãi suất 3%/tháng, thời h n 12 tháng kể từ ngày nhận tiền là ngày 06/8/2015, theo hợp đồng vay tiền ngày 06/8/2015, có công chứng.

Bà L cho vợ chồng Y, Phúc vay 02 lần tổng cộng: 659.000.000đ, sau khi vay thì chị Y, anh P có trả vốn được 125.000.000đ; đến ngày 08/11/2015 (âl) vợ chồng P, Y có ký Bi n nhận còn nợ 534.000.000đ. Sau đó, chị Y, anh P có trả th m được 12.000.000đ, còn nợ vốn vay là 522.000.000đ. Do đó, bà L yêu cầu vợ chồng chị Y, anh P li n đới trả vốn vay còn l i 522.000.000đ, không y u cầu tính lãi; những lần trả trước đây bà L không nhớ cụ thể thời gian, nhưng bà L tính vào trả vốn, không tính trả lãi, đến nay bà L cũng không y u cầu vợ chồng P, Y trả tiền lãi theo thỏa thuận, ch y u cầu trả tiền vốn vay còn l i 522.000.000đ.

uá trình làm việc, phía bị đơn trình bày là nợ tiền hụi, không phải tiền vay, nhưng bà L không thống nhất với trình bày này của vợ chồng chị Y, anh P. Do bà L cho vợ chồng chị Y, anh P vay tiền có hợp đồng, có làm bi n nhận số nợ còn l i.

Bà L không tranh chấp hụi với chị Y, anh P, cũng không y u cầu chị Y, anh P trả nợ hụi trong vụ án theo trình bày của chị Y, anh P.

Ngày 23/8/2016, bà L y u cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 và 2071 do anh P đứng t n Giấy chứng nhận SĐĐ. Ngày 23/8/2016, Tòa án đã ra uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 và 2071. Do đó, bà L y u cầu tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 và 2071 do anh P đứng t n Giấy chứng nhận SDĐ để bảo đảm thi hành án sau này cho bà L.

Bà L không có y u cầu gì đối với tranh chấp hợp đồng tặng cho SDĐ t i thửa đất số 2436 và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071 trong vụ án.

- Bị đơn chị Phan Thị Hồng Y và anh Nguyễn Minh P cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T trình bày: Chị Y, anh P không đồng ý với y u cầu của bà L. Chị Y, anh P xác định là số tiền mà bà L y u cầu chị Y, anh P trả là nợ tiền hụi, không phải là nợ tiền vay.

hoản nợ vay 329.000.000đ bà L trình bày, thực tế là khoản nợ hụi chết mà chị Y còn thiếu của nhiều dây hụi lo i 5.000.000đ/phần do bà L làm chủ hụi mà chị Y tham gia vào năm 2014 và năm 2015, n n bà L bắt buộc chị Y, anh P phải ra Phòng công chứng ký hợp đồng vay tiền ngày 09/02/2015, với nội dung vợ chồng chị Y, anh P vay bà L 329.000.000đ, để bảo đảm việc trả nợ cho bà L.

Thực tế, sau khi ký hợp đồng vay tiền ngày 09/02/2015 thì chị Y, anh P đã trả nhiều lần hụi chết được tổng cộng 124.000.000đ, còn nợ 205.000.000đ; thì bà L y u cầu chị Y chơi dây hụi lo i 30.000.000 đ/phần x 12 phần, 03 tháng khui 01 lần, khui hụi lần đầu ngày 21/7/2015 âm lịch do bà L làm chủ hụi. Chị Y hốt hụi lần đầu được 205.000.000đ (đã trừ hoa hồng) nhưng bà L không giao hụi, mà đem cấn trừ tiền hốt hụi 205.000.000đ vào khoản nợ hụi còn l i 205.000.000đ. Đồng thời, bà L bắt buộc vợ chồng chị Y, anh P tiếp tục ra Phòng công chứng ký hợp đồng vay tiền ngày 06/8/2015, với nội dung có vay của bà L số tiền 330.000.000đ tương đương với số lần đóng hụi chết của dây hụi lo i 30.000.000đồng/phần (11 lần x 30.000.000đ = 330.000.000đ).

Sau khi ký hợp đồng vay 330.000.000đ ngày 06/8/2015, chị Y, anh P có đóng hụi chết được 02 lần x 30.000.000đ = 60.000.000đ, sau đó chị Y, anh P trả tiếp được 10.850.000đ, còn nợ 259.150.000đ (270.000.000đ - 10.850.000đ = 259.150.000đ); sau đó chị Y, anh P không có khả năng đóng tiếp, n n bà L đồng ý cho trả góp mỗi tháng 3.000.000đ, chị Y, anh P góp tiếp được 03 lần tổng cộng được 11.900.000đ (5.900.000đ + 3.000.000đ + 3.000.000đ = 11.900.000 đ), còn nợ tiền hụi là 247.250.000đ; sau đó trả th m được 70.000.000đ.

Như vậy, sau khi ký hợp đồng vay của bà L 330.000.000đ, thì chị Y, anh P đã trả được tổng cộng 152.750.000đ (gồm các lần trả sau: 60.000.000đ + 10.850.000đ + 11.900.000đ + 70.000.000đ); còn nợ l i nợ hụi là 177.250.000đ (330.000.000đ - 152.750.000đ).

Do đó, chị Y, anh P không đồng ý với toàn bộ y u cầu của bà L. Nếu bà L có y u cầu trả tiền nợ hụi trong cùng vụ án, thì chị Y, anh P đồng ý trả cho bà L nợ hụi còn l i là 177.250.000đ.

- Ông Nguyễn Văn C, bà Biện Thị T cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Mạnh K trình bày: Thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 diện tích 2.017m2 (đo đ c thực tế 1.877m2) cấp giấy chứng nhận SDĐ ngày 04/9/2015 cho hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T nguồn gốc là đất ông bà để l i cho ông C, bà T thừa kế và quản lý, sử dụng làm lúa từ trước năm 1975.

Năm 1995, ông C đ i diện hộ gia đình đăng ký k khai SDĐ và được đứng t n giấy chứng nhận SDĐ ngày 30/3/1995 diện tích 6.142m2 gồm: Thửa đất số 2029 diện tích 1.120m2, thửa đất số 1693 diện tích 1.272m2 và thửa đất số 2073 diện tích 3.750 m2 cùng tờ bản đồ số 01. Các thành vi n trong hộ có chung SDĐ diện tích 6.142m2 gồm: Ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T và các con là Nguy n Minh T, Nguy n Thị Ánh T, Nguy n Thị Ánh H (ri ng chị Nguy n Thị Thúy L là vợ anh T là con dâu ch đăng ký thường trú trong hộ ông Nguy n Văn C, n n không có chung SDĐ t i thửa đất số 2436).

Năm 2008, thửa đất số 2073 diện tích 3.750m2 được cấp đổi giấy chứng nhận SDĐ ngày 27/02/2008 thửa đất số 617 tờ bản đồ số 35 diện tích 4.315m2 cho Hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T.

Đến năm 2015, đăng ký tách thửa cấp đổi thửa đất số 617 thành thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 diện tích 2.017m2 (đo đ c thực tế 1.877m2) và thửa đất số 2437 tờ bản đồ số 35 diện tích 2.298m2 cấp giấy chứng nhận SDĐ ngày 04/9/2015 cho hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T.

Sau khi cấp đổi tách thửa xong thì ông C, bà T, anh T ký hợp đồng tặng cho SDĐ ngày 08/9/2015 nội dung ông C, bà T tặng cho con là anh Nguy n Minh P toàn bộ thửa đất số 2436, mục đích để anh P đem thế chấp SDĐ thửa đất số 2436 vay tiền Ngân hàng. Thực tế ông C và bà T vẫn đang quản lý, sử dụng thửa đất số 2436 để trồng lúa.

Việc ông C, bà T, anh T ký hợp đồng tặng cho ngày 08/9/2015 ch nhằm mục đích cho anh P đứng t n SDĐ thửa đất số 2436 để thế chấp vay tiền Ngân hàng, không nhằm cho anh P chuyển nhượng hoặc sử dụng vào giao dịch khác. Mặt khác, ch có ông C, bà T, anh T ký hợp đồng tặng cho SDĐ thửa đất số 2436, còn các thành vi n khác trong hộ như: Nguy n Thị Ánh H, Nguy n Thị Ánh T, hoàn toàn không biết và không được thông báo gì về việc tặng cho thửa đất số 2436.

Do làm ăn thua lỗ n n anh P ký hợp đồng chuyển nhượng SDĐ ngày 22/8/2016, nội dung chuyển nhượng l i cho chị L Thị Hồng L toàn bộ thửa đất số 2436 mà không hỏi ý kiến của ông C, bà T và hộ gia đình.

Ông C và bà T không đồng ý việc Tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35, theo y u cầu của nguy n đơn bà Nguy n Thị L.

Nay ông C và bà T cùng y u cầu:

- Tuy n bố hợp đồng tặng cho SDĐ ngày 08/9/2015 t i thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 (giữa ông C, bà T, anh T với anh P) là hợp đồng vô hiệu.

- Tuy n bố hợp đồng chuyển nhượng SDĐ ngày 22/8/2016 t i thửa đất số 2436 (giữa anh P, chị Y với chị L) là hợp đồng vô hiệu.

- Hủy bỏ toàn bộ uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” quy định t i Điều 126 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35.

- Y u cầu hủy giấy chứng nhận SDĐ cấp cho anh Nguy n Minh P. T i phiên tòa ngày 16/9/2020, ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T ủy quyền cho ông Nguy n M nh ch y u cầu hủy nội dung xác nhận t i trang 4 giấy chứng nhận SDĐ về việc anh Nguy n Minh P nhận chuyển nhượng SDĐ thửa đất số 2436.

- Về việc xử lý hậu quả li n quan khi tuy n bố hợp đồng tặng cho và chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 là các hợp đồng vô hiệu, hủy Giấy chứng nhận SDĐ cấp cho anh Nguy n Minh P, và Hủy bỏ toàn bộ uyết định áp dụng biện pháp CTT “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35.

+ Ông C và bà T không đồng ý bồi thường thiệt h i xảy ra (nếu có) và không đồng ý li n đối với vợ chồng anh P và chị Y trong việc trả nợ vay cho bà Nguy n Thị L và trả tiền chuyển nhượng SDĐ 200.000.000đ t i thửa đất số 2436 cho chị L Thị Hồng L, bồi thường thiệt h i xảy ra do tuy n bố các hợp đồng vô hiệu và uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” t i thửa đất số 2436 (nếu có).

+ Ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T y u cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số 2436. Y u cầu chị L hoàn trả Giấy chứng nhận SDĐ thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 cho hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T quản lý, sử dụng.

+ Ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T không đồng ý với toàn bộ y u cầu của bà L, chị L trong vụ án.

- Anh Nguy n Minh T, chị Nguy n Thị Thúy L (cùng ủy quyền cho ông Nguy n M nh K) và chị Nguy n Thị Anh H, chị Nguy n Thị Ánh T trình bày: Thống nhất với ý kiến, y u cầu của ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T trình bày. Chị L xác định chị L không có chung SDĐ t i thửa đất số 2436 do anh P đứng t n giấy chứng nhận SDĐ. Anh T, chị L, chị Ánh H, chị Ánh T đều không có y u cầu độc lập trong vụ án.

- Chị Lê Thị Hồng L trình bày: Ngày 22/8/2016, t i Phòng công chứng huyện C, anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y (b n chuyển nhượng) cùng ký hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 diện tích 2.017m2 giá 200.000.000đ, và thửa đất số 2071 tờ bản đồ số 01 diện tích 2.015m2 giá 150.000.000đ cho chị L Thị Hồng L (b n nhận chuyển nhượng). Chị L đã trả cho anh P, chị Y toàn bộ số tiền chuyển nhượng hai thửa đất là 200.000.000đ + 150.000.000đ = 350.000.000đ, nhưng khi nộp hồ sơ chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 và 2071 đến bộ phận tiếp nhận (một cửa) của Ủy ban nhân dân huyện C, thì được thông báo hai thửa đất này đã bị Tòa án ra uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” theo đơn y u cầu của bà Nguy n Thị L.

Nay chị L y u cầu:

- Y u cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng SDĐ, y u cầu anh P, chị Y tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071 để chị L Thị Hồng L được đứng t n giấy chứng nhận SDĐ 2 thửa đất này, đồng thời y u cầu anh P, chị Y và ông C, bà T chuyển giao cho chị L quản lý, sử dụng 2 thửa đất số 2436 và 2071 (chị L đang giữ hai giấy chứng nhận SDĐ thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071).

- Y u cầu Hủy bỏ uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 và 2071.

- Trường hợp 2 hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071 vô hiệu, thì chị L y u cầu các đương sự: Nguy n Văn C, Biện Thị T, Nguy n Thị Ánh H, Nguy n Minh T, Nguy n Thị Ánh T, Nguy n Thị Thúy L và bà Nguy n Thị L, anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y cùng li n đới trả cho chị L tiền chuyển nhượng 350.000.000đ và tiền lãi tính từ ngày 22/8/2016 đến nay là 140.000.000đ.

T i phi n tòa ngày 16/9/2020, chị L không y u cầu chị Nguy n Thị Thúy L li n đới trả tiền chuyển nhượng 350.000.000đ và tiền lãi phát sinh 140.000.000đ.

- Anh Nguyễn Minh P, chị Phan Thị Hồng Y cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T trình bày: Anh P, chị Y thừa nhận ý kiến trình bày của ông C, bà T về nguồn gốc thửa đất số 2436 và quá trình ký hợp đồng tặng cho SDĐ t i thửa đất số 2436, mục đích ký hợp đồng, đứng t n giấy chứng nhận SDĐ t i thửa đất số 2436.

Do làm ăn thua lỗ, chị Y, anh P có nợ tiền của bà Nguy n Thị L, nên anh P, chị Y đã ký hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071 cho chị L Thị Hồng L với giá tổng cộng 350.000.000đ (thửa đất số 2436 giá 200.000.000đ, thửa đất số 2071 giá 150.000.000đ) lấy tiền trả nợ. Anh P, chị Y đã nhận số tiền 350.000.000đ, nhưng chưa giao 2 thửa đất số và chưa chuyển SDĐ cho chị L theo quy định pháp luật được vì 2 thửa đất này đã bị Tòa án ra uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” theo đơn y u cầu của bà Nguy n Thị L.

Chị Y, anh P đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng 2 thửa đất số 2436 và 2071 theo y u cầu của chị L.

Chị Y, anh P y u cầu hủy bỏ uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 2436 và 2071.

Trường hợp 2 hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071 bị vô hiệu, thì anh P, chị Y ch đồng ý trả cho chị L Thị Hồng L số tiền chuyển nhượng SDĐ là 350.000.000đ.

Trường hợp Tòa án tuy n bố hợp đồng tặng cho SDĐ t i thửa đất số 2436 là hợp đồng vô hiệu thì chị Y, anh P cũng không có ý kiến, y u cầu gì đối với ông C, bà T.

- Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản trình bày: Ngày 30/3/1995, UBND huyện C cấp giấy chứng nhận SDĐ ghi t n Nguy n Văn C gồm: thửa đất số 2029 diện tích 1.120m2, thửa đất số 2073 diện tích 3.750m2, thửa đất số 1693 diện tích 1.272m2 cùng tờ bản đồ số 01 địa ch xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp là thuộc trường hợp đăng ký ban đầu, cấp giấy chứng nhận SDĐ cho hộ Nguy n Văn C.

Ngày 27/02/2008, Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi giấy chứng nhận SDĐ thửa đất số 617 tờ bản đồ số 35 diện tích 4.315m2 cho hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T. Nguồn gốc thửa đất số 617 cấp đổi từ thửa đất số 2073 diện tích 3.750m2 tờ bản đồ số 01 n u tr n.

Ngày 04/9/2015, UBND huyện C cấp giấy chứng nhận SDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T thửa đất số 2436 tờ bản đồ 35 diện tích 2.017m2 thuộc trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận SDĐ. Thửa đất số 2346 được tách từ thửa đất số 617 tờ bản đồ số 35 n u tr n. Thành vi n có chung SDĐ cấp cho hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T căn cứ vào đăng ký hộ khẩu thường trú của hộ gia đình ông Nguv n Văn Cư và bà Biện Thị T t i từng thời điểm cấp giấy chứng nhận SDĐ ban đầu và cấp đổi.

Ngày 08/9/2015, hộ ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số 2436 cho anh Nguy n Minh P. Và anh Nguy n Minh P được đứng t n cá nhân t i trang IV giấy chứng nhận SDĐ.

- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Chấp nhận y u cầu của bà Nguy n Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y li n đới trả cho bà Nguy n Thị L số tiền vay 522.000.000đ (Năm trăm hai mươi hai triệu đồng).

Không chấp nhận y u cầu của ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T về y u cầu tuy n bố hợp đồng tặng cho SDĐ và hợp đồng chuyển nhượng SDĐ t i thửa đất số 2436, là hợp đồng vô hiệu.

Công nhận hai hợp đồng chuyển nhượng SDĐ giữa anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y với chị L Thị Hồng L t i thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 và thửa đất số 2071 tờ bản đồ số 01, được công chứng ngày 22/8/2016 t i Phòng công chứng C, t nh Đồng Tháp, có hiệu lực.

Anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y, ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T li n đới trách nhiệm giao cho chị L Thị Hồng L quản lý, sử dụng thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 diện tích 2.017 m2 (thực tế đo đ c là 1.877m2) và thửa đất số 2071 diện tích 2.015m2 (thực tế đo 2.077m2). Vị trí, diện tích thửa đất số 2436 và thửa đất số 2071 xác định theo Trích đo hiện tr ng đất tranh chấp đất ngày 06/11/2019 và ngày 20/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Hủy bỏ uyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời số 01/2016/ Đ-BP CTT ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện C.

Hủy bỏ uyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 54/ Đ-BPBĐ ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đồng Tháp. Hoàn trả cho bà Nguy n Thị L một sổ tiết kiệm số AD 00000819827 phát hành ngày 23/8/2016 và số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) mà bà Nguy n Thị L đã nộp vào tài khoản phong tỏa t i Ngân hàng N chi nhánh huyện C, t nh Đồng Tháp.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguy n Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Nguy n Thị L tiền t m ứng án phí đã nộp 19.060.500đ theo bi n lai số 11551 ngày 23/8/2016 và bi n lai số 11781 ngày 11/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Anh Nguy n Minh P và chị Phan Thị Hồng Y phải chịu án phí về nghĩa vụ trả nợ vay là 24.880.000đ.

Chị L Thị Hồng L không phải chịu án phí. Hoàn trả l i cho chị L Thị Hồng L số tiền t m ứng án phí chị L đã nộp 8.750.000đ theo bi n lai số 0000063 ngày 20/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T được mi n nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông C, bà T tiền t m ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 02750 ngày 22/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về chi phí giám định chữ ký, xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản:

Anh Nguy n Minh P và chị Phan Thị Hồng Y phải chịu chi phí giám định chữ ký là 2.025.000đ. Do bà Nguy n Thị L đã nộp t m ứng và thanh toán xong, nên anh Nguy n Minh P và chị Phan Thị Hồng Y phải trả l i cho bà Nguy n Thị L số tiền 2.025.000đ.

Bà Nguy n Thị L phải chịu chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản là 3.634.000đ. Do chị L Thị Hồng L đã nộp t m ứng và thanh toán xong, nên bà Nguy n Thị L phải hoàn trả cho chị L Thị Hồng L số tiền 3.634.000đ.

Ông Nguy n Văn C và bà Biện Thị T phải chịu chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản là 4.649.000đ (đã nộp t m ứng và thanh toán xong).

ể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuy n về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 05/10/2020, bà Nguy n Thị L kháng cáo y u cầu tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 và thửa đất số 2071 tờ bản đồ số 01 do anh Nguy n Minh P đứng t n giấy chứng nhận SDĐ.

- Ngày 05/10/2020, anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y kháng cáo ch đồng ý trả cho bà L số tiền hụi còn nợ 177.250.000đ. Y u cầu chấp nhận y u cầu của ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T tuy n bố vô hiệu hợp đồng tặng cho SDĐ ngày 09/8/2015 đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 giữa ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T, anh Nguy n Minh T với anh Nguy n Minh P. Y u cầu tuy n bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng SDĐ ngày 22/8/2016 đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 giữa anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y với chị Lê Thị Hồng L. Anh P, chị Y đồng ý trả l i cho chị L 200.000.000đ.

- Ngày 05/10/2020 và 06/10/2020, ông Nguy n Văn C, chị Nguy n Thị Ánh T, chị Nguy n Thị Ánh H kháng cáo y u cầu tuy n bố vô hiệu hợp đồng tặng cho SDĐ ngày 09/8/2015 đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 giữa ông Nguy n Văn C, bà Biện Thị T, anh Nguy n Minh T với anh Nguy n Minh P; Y u cầu tuy n bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng SDĐ ngày 22/8/2016 đối với thửa đất số 2436 tờ bản đồ số 35 giữa anh Nguy n Minh P, chị Phan Thị Hồng Y với chị L Thị Hồng L. Anh P, chị Y có trách nhiệm trả l i cho chị L 200.000.000đ.

- T i phi n tòa phúc thẩm:

+ Ông V trình bày: Bà L vẫn giữ nguy n việc khởi kiện và không thỏa thuận được với anh P, chị Y về việc giải quyết vụ án. Y u cầu anh P, chị Y trả nợ theo quyết định của bản án sơ thẩm.

+ Anh T trình bày: Anh P, chị Y kháng cáo ch đồng ý trả cho bà L số tiền là 177.250.000đ.

+ Chị L trình bày: Y u cầu giữ nguy n quyết định của bản án sơ thẩm.

+ Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp ý kiến về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến t i phi n tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Xét thấy, bà L y u cầu vợ chồng anh P, chị Y trả nợ vay và y u cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời để phong tỏa quyền sử dụng đất của anh P, chị Y để bảo đảm thi hành án, đối với thửa 2436 diện tích 2.071m2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh P ngày 17/9/2015, thửa 2071 diện tích 2.015m2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh P ngày 12/5/2008. Do đó, để giải quyết vụ án phải thu thập chứng cứ làm rõ quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất của hộ gia đình chị L và ý kiến của người đang quản lý đất nhằm bảo đảm quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định. Đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết l i theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phi n tòa.

Ậ ĐỊ CỦA T A :

[1] Bà L khởi kiện anh P, chị Y tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ( SDĐ), hợp đồng chuyển nhượng SDĐ. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là phù hợp quy định.

[2] Xét thấy, bà L y u cầu anh P, chị Y (vợ chồng anh P) trả nợ vay, việc vay tiền được thể hiện t i hợp đồng ngày 09/02/2015 và ngày 06/8/2015 và đã được Văn phòng Công chứng huyện C thực hiện công chứng theo trình tự thủ tục quy định. Cụ thể: Lần 1 vay số tiền 329.000.000đ không ghi lãi suất, thời h n 20 tháng, lần 2 vay số tiền 330.000.000đ lãi suất 3%/tháng thời h n 12 tháng. uá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng anh P thanh toán 125.000.000đ n n lập bi n nhận còn nợ số tiền 534.000.000đ vào ngày 08/11/2015 âl, sau khi lập bi n nhận thì thanh toán tiếp 12.000.000đ nay còn nợ 522.000.000đ. Bà L thừa nhận chị Y có tham gia chơi hụi nhưng số tiền nợ nói tr n không phải là tiền hụi.

Đối với vợ chồng anh P cho rằng không có vay tiền của bà L mà chị Y tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi, n n bà L bắt buộc vợ chồng anh P phải ký hợp đồng vay tiền nói tr n để bảo đảm việc trả tiền hụi cho bà L. T i phi n tòa phúc thẩm, anh T không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc bà L và chị Y thống nhất nợ hụi chuyển thành nợ vay.

Mặt khác, t i Tòa án cấp sơ thẩm bị đơn cho rằng khoản nợ thứ nhất là 329.000.000đ (hợp đồng ngày 09//02/2015) đã thanh toán 124.000.000đ, còn nợ 205.000.000đ. Ngày 21/7/2015 âl chị Y hốt hụi được 205.000.000đ và được trừ vào khoản nợ này n n khoản nợ thứ nhất đã thanh toán xong. hoản nợ thứ hai 330.000.000đ là tiền phải đóng hụi chết cho dây hụi chị Y hốt ngày 21/7/2015 âl. Sau khi ký hợp đồng ngày 06/8/2015 thì đã đóng hụi chết và thanh toán 152.750.000đ (60.000.000đ + 10.850.000đ + 5.900.000đ + 3.000.000đ + 3.000.000đ + 70.000.000đ), còn nợ là 177.250.000đ. T i phi n tòa phúc thẩm, anh T khai số tiền nợ còn l i 177.250.000đ như sau: hoản nợ thứ nhất từ số tiền còn thiếu là 335.000.000đ thanh toán 6.000.000đ, đến tháng 8/2015 thanh toán tiếp 89.000.000đ, còn nợ 260.000.000đ và cũng trong tháng 8/2015 chị Y hốt hụi số tiền 220.000.000đ cộng với số tiền bà L thiếu chị Y của dây hụi khác 40.000.000đ (không nhớ ngày tháng năm) đều được trừ vào khoản nợ thứ nhất này, như vậy số tiền ghi trong hợp đồng 329.000.000đ đã thanh toán xong. hoản nợ thứ hai 330.000.000đ là tiền phải đóng hụi chết cho dây hụi chị Y hốt vào tháng 8/2015 thì chị Y đã đóng hụi chết và thanh toán ch còn nợ là 177.250.000đ (các khoản thanh toán 60.000.000đ + 22.700.000đ + 70.000.000đ). ua đó cho thấy quá trình giải quyết vụ án, đương sự trình bày có sự mâu thuẫn về thời gian thanh toán, số lần thanh toán, số tiền thanh toán của mỗi lần và không chứng minh được đầy đủ thời gian thanh toán.

3 Xét hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho SDĐ: T i Tòa án cấp sơ thẩm, bà L có đơn y u cầu Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp t m thời đối với tài sản của anh P và chị Y để bảo đảm thi hành án dân sự theo quy định t i Điều 126 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và đã được Tòa án cấp sơ thẩm ban hành uyết định số 01/2016/ Đ-BP CTT ngày 23/8/2016, về việc phong tỏa tài sản của anh P, chị Y gồm: Diện tích đất 2.017m2 thửa số 2436 tờ bản đồ số 35 giấy chứng nhận SDĐ cấp cho anh P ngày 17/9/2015 và diện 2.015m2 thửa số 2071 tờ bản đồ số 35 giấy chứng nhận SDĐ cấp cho anh P ngày 12/5/2008, đất t i xã A, huyện C, t nh Đồng Tháp. Về phía chị L thì y u cầu vợ chồng anh P tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vì chị đã thanh toán cho anh P đủ số tiền nhận chuyển nhượng là 350.000.000đ theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 22/8/2016 (thửa đất số 2436 giá 200.000.000đ và thửa số 2071 giá 150.000.000đ). Đối với ông C và bà T y u cầu tuy n bố vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 2436. Lý do: Ông C, bà T, anh T cho rằng việc thực hiện thủ tục tặng cho SDĐ cho anh P là để anh P thế chấp vay tiền ngân hàng, n n không đồng ý việc chuyển nhượng đất cho chị L và không đồng ý việc phong tỏa thửa đất 2436 để bảo đảm thi hành án cho vợ chồng anh P. Nhận thấy, y u cầu của việc giải quyết vụ án li n quan đến y u cầu phong tỏa SDĐ, y u cầu công nhận hay không công nhận hợp đồng chuyển nhượng SDĐ và hợp đồng tặng cho SDĐ. Đồng thời, chị L sống chung với gia đình cha m và đang sử dụng đất canh tác lúa. Vì vậy để xem xét toàn diện vụ án, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đương sự, quyền lợi và nghĩa vụ của từng thành vi n trong hộ gia đình của chị L và áp dụng đúng quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho SDĐ thì cần phải thu thập chứng cứ đầy đủ như: Làm rõ ý kiến của các thành vi n hộ gia đình của chị L để xác định nguồn tiền nhận chuyển nhượng SDĐ có li n quan đến hộ gia đình không Những người nào đang quản lý canh tác lúa Giá trị đất thực tế và y u cầu của đương sự đối với từng quan hệ giao dịch như thế nào Y u cầu của hộ gia đình chị L khi công nhận hoặc không công nhận hợp đồng chuyển nhượng như thế nào Do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, n n phải hủy án sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết l i. Việc anh P cho rằng khi ký hợp đồng t i Văn phòng công chứng thì cũng không biết rõ nội dung và công chứng ngoài giờ hành chính, n n khi giải quyết l i vụ án cũng cần phải thu thập chứng cứ li n quan đến trình tự thủ tục thực hiện công chứng hợp đồng vay và y u cầu của anh P, chị Y như thế nào đối với việc công chứng để xem xét theo quy định.

Đ i diện Viện kiểm sát T nh đề nghị hủy án sơ thẩm là có cơ sở n n chấp nhận.

4 Án phí: Do hủy án sơ thẩm n n các đương sự kháng cáo không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊ :

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 43/2020/DS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đồng Tháp.

Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết l i theo quy định của pháp luật.

2. Án phí:

Bà Nguy n Thị L không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho bà L tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0008080 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, t nh Đồng Tháp.

Anh Nguy n Minh P không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho anh P tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0008076 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, t nh Đồng Tháp.

Chị Phan Thị Hồng Y không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho chị Y tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0008077 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, t nh Đồng Tháp.

Ông Nguy n Văn C không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho ông C tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0008074 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, t nh Đồng Tháp.

Chị Nguy n Thị Ánh T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho chị Tươi tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0008091 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, t nh Đồng Tháp.

Chị Nguy n Thị Ánh H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả l i cho chị Hồng tiền t m ứng án phí 300.000đ theo bi n lai số 0008090 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, t nh Đồng Tháp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ