vanban.org

Bản án 109/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 06/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Thanh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2021. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Tịnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2021/HSST
Ngày: 29/9/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Long và ông Trịnh Xuân Nguyên.

Thư ký phiên toà: Bà Quách Thị Thủy- Thư ký Toà án nhân dân thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2021/HSST ngày 20/8/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2021/QĐXXST-HS ngày 14/9/2021 đối với:

Bị cáo: Lê Thanh T, sinh năm 1970 tại tỉnh Hòa Bình

Nơi cư trú: Tổ 05, phường K, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Quang T (đã chết); Con bà: Phan Thị T (đã chết); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.

Về nhân thân:

- Tháng 10/2000 Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, xử phạt 24 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

- Tháng 9/2008 Tòa án nhân dân huyện K (nay là Tòa án nhân dân thành phố H) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tháng 6/2018 Tòa án nhân dân huyện K (nay là Tòa án nhân dân thành phố H) xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt giảm xuống 12 tháng tù.

Tiền sự: (Không).

Tiền án: Tháng 2/2016 Toà án nhân dân huyện K (nay là thành phố H), xử phạt Lê Thanh T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa thi hành phần án phí hình sự và tiền truy thu.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Chung Th, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: Xóm M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hoà Bình, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ, ngày 18/6/2021 tổ công tác đội Điều tra tội phạm ma tuý Công an thành phố Ho đang làm nhiệm vụ tại khu vực Công viên, phường Q, thành phố H phát hiện bắt quả tang Lê Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm 01 (một) gói giấy màu trắng hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng, lập tức bị thu giữ người cùng vật chứng.

Quá trình điều tra, Lê Thanh T khai nhận, do nghiện chất ma túy, nên vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 18/6/2021 T đi xe Buýt từ nhà (phường K) đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật số 03, phường Đ, thành phố H để uống thuốc Methadon sau đó có gặp Hoàng Chung Th là bạn nên T hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 28G1-212.53 của Th nói là đi công việc, Th đồng ý cho mượn, T điều khiển xe đi đến khu vực Công viên thuộc phường Q, thành phố H để tìm mua ma túy. Đến nơi, T gặp một người phụ nữ tên là V, qua trao đổi T mua được của V 01 gói ma túy với giá 200 nghìn đồng. Mua được ma tuý, T quay xe lại trả cho anh Th, sau đó nhờ Th đưa xe ra khu vực đèn tín hiệu giao thông thuộc khu vực phường Đ để bắt xe buýt về nhà. T trực tiếp điều khiển xe chở Th, trên đường đi Th có nói là đổi lái, khi T dừng xe để Th đổi lái thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện, lập tức bắt giữ người cùng vật chứng.

Quá trình điều tra, Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan điều tra, ra Quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu được. Tại Bản kết luận giám định số 197/KLGĐ –CAT-PC09 ngày 25/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi đối tượng bị bắt Lê Thanh T gửi giám định có khối lượng 0,17 gam (không phẩy mười bẩy gam) là ma túy, loại Heroin và Methamphetamine.

Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 19/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm (i) khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày luận tội, trên cơ sở đánh giá tính khách quan, toàn diện, đầy đủ chứng cứ có tội, chứng cứ vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu qủa của hành vi phạm tội đã gây ra. Nên giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm (i) khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thanh T mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Thanh T được hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Đối với người phụ nữ tên V bán ma túy cho Lê Thanh T. Do chưa xác định được lai lịch, nên chưa có căn cứ giải quyết.

Đối với Hoàng Chung Th là người cho T mượn xe mô tô đi mua ma tuý, bản thân Th không biết và không liên quan đến hành vi tang trữ trái phép chất ma tuý của T nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 28G1-212.53 Cơ quan điều xác định việc Th cho T mượn đi mua ma tuý, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của T và đã trả lại cho Th. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, Th không có yêu cầu gì nên không đề nghị giải quyết.

Về án phí, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo Lê Thanh T không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Thanh T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến công lao của bố mẹ (có huân huy chương) để bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Lê Thanh T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của bị cáo và mất tình hình trật tự trị an, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm, xong bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ cho bản thân, cụ thể vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 18/6/2021 Lương Văn T mua 01 (một) gói ma túy, có khối lượng 0,17g (không phẩy mười sáu gam), là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine của một người phụ nữ tên V với giá 200 nghìn đồng ở gần khu vực Công viên thuộc phường Q, thành phố H mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang thu giữ người cùng vật chứng.

Lời khai nhận tội của Lê Thanh T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Kết quả giám định khối lượng chất ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận, Lê Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm (i) khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần phải có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện để tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khách liên quan:

Về nhân thân, bị cáo Lê Thanh T là đối tượng có nhân thân xấu đã bị Toà án xét xử về nhiều tội, đến nay vẫn còn một tiền án chưa được xoá án, cụ thể:

- Tháng 10/2000 Tòa án nhân dân tỉnh H, xử phạt 24 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

- Tháng 9/2008 Tòa án nhân dân huyện K (nay là Tòa án nhân dân thành phố H) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tháng 6/2018 Tòa án nhân dân huyện K (nay là Tòa án nhân dân thành phố H) xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù.

- Tháng 2/2016 Toà án nhân dân huyện K (nay là thành phố H), xử phạt Lê Thanh T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa thi hành phần án phí hình sự và tiền truy thu.

Với những lần phạm tội trên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại phạm tội mới. Lần phạm tội của bị cáo lần này thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì và mẹ bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây được coi là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để áp dụng cho bị cáo.

Đối với người phụ nữ tên V bán ma túy cho Lê Thanh T. Do chưa xác định được lai lịch, nên chưa có căn cứ giải quyết.

Đối với Hoàng Chung Th là người cho T mượn xe mô tô đi mua ma tuý, bản thân Th không biết và không liên quan đến hành vi tang trữ trái phép chất ma tuý của T nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Thanh T được hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 28G1-212.53 Cơ quan điều xác định việc Th cho T mượn đi mua ma tuý, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của T và đã trả lại cho Th. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, Th không có yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết ở phần quyết định.

. Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm (i) khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Thanh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả sau giám định chất ma túy mang tên Lê Thanh T của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

Nội dung vật chứng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng số: 112/BB, ngày 30/8/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố H.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Chung Th có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/9/2021).

Cỡ chữ