- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Hiếu N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 148 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 26 Bộ luật tố t ng dân sự
| T A ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2021/DS-PT Ngày: 05-4-2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đ t;
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguy n B ch Nga - i m sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 29/3/2021 và 05/4/2021, t i tr s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số 24/2021/TLPT-DS ngày 25 tháng 02 năm 2021, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2020/DS-ST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.
Theo uyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 76/2021/ Đ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phong Tú H, sinh năm 1974;
Địa ch : đường L, Phường M, uận S, thành phố Hồ Chí Minh.
Đ i diện theo ủy quyền: Ông Giang Chí D, sinh năm 1973; địa ch : đường M, Phường B, uận S, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Lê Hiếu N, sinh năm 1962;
Địa ch : đường L, Tổ B, khóm M, phường P, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Đ i diện theo ủy quyền: Ông Võ Minh L, sinh năm 1957; địa ch : đường L, Tổ B, khóm M, phường P, thành phố C, t nh Đồng Tháp.
3. Người kháng cáo: Bà Lê Hiếu N - Là bị đơn trong v án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Giang Chí D đại diện theo ủy quyền Phong Tú H trình bày: Ngày 11/11/2009, bà H có cho bà Lê Hiếu N mượn (vay không lãi suất) 1.000.000.000đ; thời h n vay là khi nào v án chia thừa kế đối với 02 căn nhà số T, uận N, thành phố Hồ Chí Minh trong gia đình của bà Hiếu N được xét xử xong và bà Hiếu N nhận được nhà thừa kế hoặc được phân chia thừa kế thì bà Hiếu N phải trả l i ngay số tiền này cho bà H. Đến nay thì Tòa án nhân dân cấp cao đã có Bản án số 393/2019/DS-PT ngày 09/9/2019 về v án chia thừa kế nói trên và theo bản án này thì bà Hiếu N được nhận giá trị thừa kế 6.000.000.000đ (bà Lê Trung N đồng nguyên đơn với bà Hiếu N cũng được nhận 6.000.000.000đ). Nên nay bà H yêu cầu bà Hiếu N phải trả cho bà số tiền 1.000.000.000 đồng như đã thỏa thuận, không yêu cầu tính lãi.
- Bà Lê Hiếu N và người đại diện theo ủy ủy quyền của bà N là ông Võ Minh L trình bày: Năm 2008, cha của bà Hiếu N chết đ l i cho bà Hiếu N, bà Trung N 02 căn nhà số T, uận N, thành phố Hồ Chí Minh, nhưng bà Trần Thị Minh Loan đưa giấy chủ quyền ra và đuổi chị em bà đi, nên bà Trung N (chị bà Hiếu N) kiện ra Tòa án nhân dân uận N tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất đối với 02 căn nhà nêu trên với bị đơn là bà L, do luật sư Nguy n Thế Thông làm đ i diện cho bà Trung N.
Cũng trong năm 2008, ông Tăng D (sinh năm 1956; thường trú A, W, USA là việt kiều Mỹ) đi cùng ông Đỗ Hữu C (sinh năm 1970; Địa ch : đường L, Phường M, uận S, thành phố Hồ Chí Minh) tự xưng là con nuôi của mẹ bà Hiếu N (mà không có giấy tờ chứng minh) và đề nghị giúp đỡ bà Hiếu N trong v án này. Do không hi u biết pháp luật và ngộ nhận, không thấy được sự lừa đảo của ông Tăng D nên bà Hiếu N chấp nhận và ký với ông Tăng D một bản thỏa thuận cam kết làm việc với ông Tăng D và nếu thành công thì bà Hiếu N sẽ phải trả công cho phía ông Tăng D 50% giá trị tài sản thừa kế nhận được. Riêng chị bà Hiếu N là bà Trung N thì ký cam kết với Công ty luật hợp danh Trần C.
Ngày 11/11/2009, ông Tăng D, luật sư Chiến và vợ là bà H đến Đồng Tháp và ép bà Hiếu N, ông L ký khống một tờ giấy nợ 01 tỷ đồng đ làm tin cho bà H và hứa khi ra công chứng ủy quyền cho ông Tăng D tham gia giải quyết toàn bộ v án này thì sẽ trả l i và hủy bỏ tờ giấy ghi nợ này.
Đến ngày 19/7/2016, bà Hiếu N có làm hợp đồng ủy quyền bằng vi bằng với ông Tăng D, sau đó bà N, ông L đề nghị bà H và luật sư Chiến trả l i tờ giấy ghi nợ khống nói trên nhưng ông Tăng D cứ hẹn lần này đến lần khác, cuối cùng ông không trả mà còn thách thức và hăm d a bà N, ông L không thực hiện hợp đồng ủy quyền thì ông thưa bà N, ông L bồi thường số tiền 10,5 tỷ đồng như vi bằng đã ký.
Trong quá trình tham gia tố t ng v án ông Tăng D và các luật sư do ông giới thiệu không làm tròn trách nhiệm đ o đức của một luật sư, không thực hiện theo ý chí nguyện v ng của thân chủ, luôn gây khó khăn trong quá trình xét xử của Tòa án các cấp, luôn đưa ra những tình tiết và đòi hỏi có lợi cho việc chiếm đo t tài sản thừa kế của bà Hiếu N dẫn đến v án kéo dài trên 10 năm.
Khi Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử xong v án chúng tôi đã đồng ý nhưng ông Tăng D và các luật sư của ông không chịu, ép bà N ký đơn kháng cáo. Do trước đó đã bị lừa ký các văn bản bất lợi cho bản thân nên bà N, ông L đành chấp nhận làm theo sự khống chế của h .
Do v án kéo dài trên 10 năm, thực sự v án đã giải quyết xong t i Tòa án nhân dân uận N nhưng do ông Tăng D và các luật sư của ông muốn chiếm đo t tài sản của cha mẹ bà N nên đ v án kéo dài. Hơn thế nữa, bà N, ông L nhận thấy dù có được hư ng thừa kế bao nhiêu đi nữa thì không còn, vì đã bị ông Tăng D và luật sư chiếm đo t hết, do đó khi xét xử Tòa án cấp cao t i thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tự thỏa thuận trước tòa, không chấp nhận cho ông Tăng D và các luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi các phiên tòa tiếp theo và đã được Tòa án cấp cao chấp nhận nên bà N, ông L tự tham gia các phiên tòa sau.
Ngày 03/6/2019, bà N, ông L đến trình bày và đề nghị Phòng Công chứng Gia Đ hủy hợp đồng ủy quyền với ông Tăng D và đã được Phòng Công chứng Gia Đ chấp nhận.
Trước đó, ông Tăng D và các luật sư của ông đã cầm 01 bản hợp đồng ủy quyền đến đề nghị bà N, ông L ký l i và cho ông bà 01 tỷ đồng sau khi ký, nhưng bà N, ông L không chịu ký vì nếu ký h sẽ lừa đảo như những lần trước.
Trong thời gian này, ông Tăng D và các luật sư của ông đã cử nhiều người khác đến nhà bà N, ông L thành phố C (t nh Đồng Tháp) hăm d a nếu không tiếp t c thực hiện sẽ yêu cầu bà N, ông L đền bù 10,5 tỷ đồng, trong đó có chính luật sư Diệp Hùng C. Ngày 12/12/2018 lúc 16 giờ 11 phút ông Tăng D nhắn tin cho bà N, ông L cho hay đã bán 02 căn nhà đang tranh chấp và đã lấy đủ tiền đ nhằm khống chế bà N, ông L buộc bà N, ông L phải quay l i làm việc với h . Hiện nay, ông Tăng D đã bán căn nhà 515 – 517 giá bao nhiêu bà N không rõ và ngày tháng năm nào ông Tăng D đã nhận c c 4.000.000.000đ.
Do thiếu hi u biết và tin vào sự m o danh của ông Tăng D nên bà N, ông L đã tin tư ng h , lợi d ng vào đó h ép bà N, ông L ký vào những văn bản mà nội dung của nó chứa nhiều sự lừa đảo nhằm chiếm đo t tài sản thừa kế của bà N, ông L, vi ph m đ o đức của luật sư, bà N, ông L sẽ thư ng như đã hứa, nhưng ông Tăng D và các luật sư của ông không làm tròn trách nhiệm, mà làm v án kéo dài trên 10 năm, luôn đưa ra những chứng cứ nhằm chiếm đo t tài sản thừa kế của bà N, ông L. Chiếm đo t tài sản không được nên vợ chồng ông C, bà H mới lấy tờ giấy ghi nợ khống trước đây thưa bà N, ông L. Bà N đề nghị Tòa án nhân dân thành phố C không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và chuy n cho cơ quan điều tra xem xét ông Tăng D, các luật sư và bà H có dấu hiệu lừa đảo chiếm đo t tài sản thừa kế.
Việc có nhận tiền của bà H hay không và nguyên nhân có tờ giấy ghi nợ khống trên, tôi đã nêu rất rõ. Trong tờ giấy nợ có nêu 02 căn nhà thừa kế t i địa ch số 515-517 đường Nguy n Trãi, hiện nay bà N cũng chưa nhận l i được. Bà N khẳng định l i đây là tờ giấy nợ khống, bị ép buộc ký, vì giữa bà N và bà H không quen biết, mà do ông Tăng D và luật sư Chiến dẫn vợ xuống nhà ép bà N, ông L ký, điều này chứng minh tờ giấy nợ này và v án tranh chấp 02 căn nhà số 515-517 có liên quan với nhau.
T i phiên hòa giải cũng như t i phiên tòa, ông L xác định bà H và bà N không quen biết nhau và bà N cũng không có nhận 1.000.000.000đ của bà H. Biên nhận ngày 11/11/2009, thì do bà N và ông L bị ép ký; khi ký có chứng kiến của ông Tăng D và ông C, tuy nhiên ông không có gì chứng minh việc ép ký biên nhận. V kiện tranh chấp hai căn nhà số 515 - 517 đã được giải quyết xong và bà N, ông L đã nhận đủ 6.000.000.000đ. Ngoài ra ông L không còn trình bày gì thêm.
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Phong Tú H.
- Buộc bà Lê Hiếu N phải trả cho bà Phong Tú H 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Lê Hiếu N phải chịu 42.000.000 đồng.
+ Bà Phong Tú H không phải chịu nên được nhận l i 21.000.000 đồng tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008018 ngày 24/12/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố C, t nh Đồng Tháp.
từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc k từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa v của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 08/01/2021, bà Lê Hiếu N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn kh i kiện, đình ch v án. Bà N cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử dựa trên chứng cứ giả m o, lừa dối, không có thật nên vô hiệu; không đưa các Luật sư tham gia tố t ng là vi ph m nghiêm tr ng thủ t c tố t ng.
- T i phiên tòa phúc thẩm:
+ Bà Giang Chí D trình bày, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, không thỏa thuận được với bà Lê Hiếu N, về giải quyết v án, không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới và yêu cầu giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
+ Ông Võ Minh L trình bày, bà Hiếu N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý trả nợ như án sơ thẩm xử, vì không có nhận tiền vay. Đồng thời không cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
+ Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp ý kiến về giải quyết v án:
Về tố t ng: Từ khi th lý v án đến t i phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố t ng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Hiếu N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
[1] Bà H kh i kiện đối với bà Hiếu N về việc yêu cầu trả tiền vay. Do đó, Tòa án thành phố C th lý giải quyết v án dân sự về hợp đồng vay tài sản là phù hợp quy định của pháp luật. Bà Hiếu N kháng cáo trong thời h n luật định là hợp lệ.
[2] Ông D trình bày, việc bà H thỏa thuận cho bà Hiếu N vay tiền là do bà H có quen biết với ông Tăng D (người đang hợp tác với bà Hiếu N trong việc tham gia tố t ng giải quyết v án dân sự do bà N kh i kiện bà L) và ông D1 giới thiệu bà Hiếu N đ vay tiền. Ngày 11/11/2019, bà Hiếu N vay của bà H số tiền 1.000.000.000đ, bà Hiếu N trực tiếp nhận tiền và có lập biên nhận. Ông L thừa nhận bà Hiếu N có ký tên vào biên nhận vay tiền ngày 11/11/2019, nhưng không có nhận tiền. Nguyên nhân là do bà Hiếu N hứa sẽ nhờ ông D1 giúp bà trong việc thực hiện thủ t c kh i kiện, tham gia tố t ng t i Tòa án đ giải quyết tranh chấp tài sản giữa bà Hiếu N với bà L (hiện nay nguyên đơn, bị đơn đều không tìm được ông D1 đ mời đến Tòa án đ Tòa án lấy lời khai). Vì vậy, ông D1 và bà H yêu cầu bà Hiếu N ký biên nhận vay tiền đ buộc bà thực hiện việc đã hứa nói trên. Đồng thời, ông L cho rằng việc lập biên nhận khống là do bị ép buộc nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của bà H.
Xét biên nhận mượn tiền ngày 11/11/2019: Ông L trình bày, bà H có hành vi ép buộc bà Hiếu N ký biên nhận, nhưng ông L không có chứng cứ chứng minh bà H hoặc người nào khác dùng vũ lực hoặc đe d a dùng vũ lực ép buộc bà Hiếu N ký tên biên nhận mượn tiền. Mặt khác, ông L cho rằng, bà H yêu cầu bà Hiếu N ký biên nhận mượn tiền và sau khi bà Hiếu N ký hợp đồng với ông D1 xong sẽ hủy bỏ biên nhận là không có cơ s , vì theo nội dung biên nhận th hiện rõ m c đích vay tiền là sử d ng cá nhân, phương án trả nợ vay là sau khi nhận được căn nhà đang tranh chấp với bà L xong và khẳng định việc vay 1.000.000.000đ không liên quan đến ký kết hợp đồng nào khác, bà Hiếu N tự ghi xác nhận đã nhận đủ tiền. Ngoài ra, ông L khai quá trình Tòa án thành phố C giải quyết v án, bà H xác định khi cho vay có ông D1 bảo lãnh sẽ trả nợ thay cho bà N, nên ông D1 mới là người có trách nhiệm trả nợ. Việc này, ông D xác định bà H có viết bản khai có đề cập ý kiến của ông D1, c th như sau: Do ông D1 biết bà H (hai bên biết nhau trong kinh doanh của bà H) nên ông D1 có nói là cho bà Hiếu N vay mà không trả thì ông sẽ trả là nhằm t o thuận lợi trong làm ăn, chứ thực tế các bên không có thỏa thuận bảo lãnh đối với số tiền vay ngày 11/11/2019 (bà H không thừa nhận việc bảo lãnh). ua đó cho thấy, ý chí vay tiền của bà Hiếu N là hoàn toàn tự nguyện, nội dung biên nhận hoàn toàn không th hiện vay tiền liên quan đến ông D1. Mặt khác, không có thủ t c bảo lãnh theo quy định của pháp luật và không căn cứ chứng minh giữa người cho vay, người bảo lãnh, người được bảo lãnh thống nhất về hình thức và ph m vi bảo lãnh.
Vì vậy, bà Hiếu N kháng cáo không đồng ý trả nợ vay là không có cơ s .
[3] Đ i diện Viện ki m sát T nh đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hiếu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ s nên chấp nhận.
Án sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hiếu N. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[4 ] Án phí: Bà Hiếu N kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, khoản 1 Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015; Điều 357, 463, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV H 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v uốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Hiếu N.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Chấp nhận yêu cầu của bà Phong Tú H.
Buộc bà Lê Hiếu N phải trả cho bà Phong Tú H 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng).
từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Bà Lê Hiếu N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 42.000.000 đồng.
Bà Lê Hiếu N phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí phúc thẩm 300.000đ theo biên lai thu số 0007623 ngày 14/01/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Bà Phong Tú H được nhận l i 21.000.000 đồng tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008018 ngày 24/12/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố C, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - V SND T nh; - TAND Tp. C; - Chi c c THADS Tp. C; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vạng |