- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:109/2020/HSST Ngày 12-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thực và bà Vũ Thị Khánh Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2020//TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 17- 6- 2000, tại: Xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970 và bà H Thị H, sinh năm 1969; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-7-2020, đến ngày 09-7-2020 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1989 Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Người làm chứng:
1. Anh Vũ Văn C, sinh năm 1985
2. Chị Lê Thị D, sinh năm 1986 Đều cư trú: Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
(Anh Hà, anh C và chị D đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 45 phút ngày 05 tháng 7 năm 2020, tại trước cửa nhà nghỉ Phương Đông thuộc thôn A, xã N, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi bán trái phép ma túy cho anh Nguyễn Xuân H. Kiểm tra, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của anh Nguyễn Xuân H 01 đoạn ống nhựa dạng ống hút màu cam được bịt kín hai đầu, bên trong chứa 0,0514 gam ma túy, loại Methamphetamine (Niêm phong ký hiệu M1), anh H khai nhận ống ma túy trên anh H vừa mua của bị cáo Đ với giá 500.000 đồng, mục đích sử dụng. Kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay phải của bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 đoạn ống nhựa dạng ống hút màu vàng được bịt kín hai đầu, bên trong chứa 0,1304 gam ma túy, loại Methamphetamine (Niêm phong ký hiệu M2), bị cáo Đ khai nhận ống ma túy trên là của bị cáo Đ mang đi mục đích để bán. Ngoài ra, Công an huyện Hưng Hà còn thu giữ của bị cáo Đ số tiền 500.000 đồng là tiền bị cáo Đ bán ma túy cho anh Hà; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVEALPHA, màu đen bạc, biển kiểm soát: 17B4-53266. Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói ma tuý trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng là anh Vũ Văn C và chị Lê Thị D.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại thôn C, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, không thu giữ tài sản gì.
Bản kết luận giám định số 263/KLGĐ- PC09 ngày 07-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,0514 gam. Mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1304 gam. Methamphetamine STT:323, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số 107/CT-VKSHH ngày 16-10-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa;
Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận: Do có hẹn từ trước về việc bán ma túy đá cho anh Hà người cùng thôn nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05-7-2020, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 17B4-53266 mang theo 02 đoạn ống nhựa dạng ống hút màu cam và màu vàng, bịt kín hai đầu bên trong đều chứa ma túy đá đến khu vực nhà nghỉ Phương Đông thuộc địa phận thôn A, xã N, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để bán ma túy cho anh Hà. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo đến điểm hẹn thì thấy anh H Đ đứng trước cửa nhà nghỉ. Khi gặp nhau, anh H nói “để cho anh một túi 5”, bị cáo hiểu là anh H muốn mua gói ma túy đá với giá 500.000 đồng, bị cáo đã đưa cho anh H một ống nhựa dạng ống hút màu cam, bịt kín hai đầu bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine, anh H đưa cho bị cáo 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, đúng lúc đó bị lực lượng Công an huyện Hưng Hà bắt quả tang. Kiểm tra, thu giữ của anh Hà 01 đoạn ống nhựa dạng ống hút màu cam được bịt kín hai đầu, bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine; thu giữ của bị cáo 500.000 đồng; 01đoạn ống nhựa dạng ống hút màu vàng được bịt kín hai đầu, bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, ống ma túy trên là của bị cáo mang đi mục đích để bán; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 17B4-53266 do bị cáo mượn của một người bạn tên H ở thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, anh H không biết bị cáo mượn xe đi mua bán ma túy, bị cáo không biết họ, tên đệm, năm sinh và địa chỉ cụ thể của anh H. Bị cáo mua 02 ống ma túy trên của một người đàn ông khoảng 20 tuổi (không biết họ, tên, địa chỉ) tại khu vực chợ C, xã D, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với giá 500.000 đồng vào ngày 04-7-2020.
Kiểm sát viên - Đại viện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05-7-2020; áp dụng khoản 5 Điều 251, phạt bổ sung đối với bị cáo Đ từ 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đồng thu của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu của bị cáo Nguyễn Văn Đ và thu của anh Nguyễn Xuân Hà là vật chứng của vụ án, sau khi giám định được niêm phong trong 02 phong bì số 263/KLGĐ-PC09 (ký hiệu M2, M1) ngày 07-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ không tranh luận gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân H và những người làm chứng là anh Vũ Văn C và chị Lê Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra anh H, anh C và chị D đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của anh H, anh C và chị D không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày 05-7-2020 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày 05-7-2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 263/KLGĐ- PC09 ngày 07/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân H; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là anh Vũ Văn C và chị Lê Thị D. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 05-7- 2020, tại trước cửa nhà nghỉ Phương Đông thuộc thôn A, xã N, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi bán trái phép 0,0514 gam ma túy, loại Methamphetamine cho anh Nguyễn Xuân H với giá 500.000 đồng và tàng trữ 0,1304 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để bán, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên;
...................................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vì mục đích vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho người khác để kiếm lời. Tội phạm mà bị cáo đã phạm thuộc loại tội nghiêm trọng. Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma tuý, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người và gây tác hại nhiều mặt của cuộc sống xã hội; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự; trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy, về việc nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng...trái phép chất ma túy nhưng vì vụ lợi lợi mà bị cáo bất chấp dư luận, đã bán ma tuý cho người khác, điều đó cho thấy ý thức của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Ngoài hình phạt tù ra, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự;
[7] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà quản lý của bị cáo Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Xuân H sau khi giám định, số còn lại được niêm phong trong 02 phong bì số 263/KLGĐ-PC09 (ký hiệu M1, M2) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà quản lý của bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 500.000đồng. Quá trình điều tra xác định đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà quản lý của bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVEALPHA, màu đen bạc, biển kiểm soát: 17B4-53266. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H ở khu X, thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai mượn chiếc xe mô tô trên của một người tên H ở thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, anh H không biết bị cáo mượn xe đi mua bán ma túy. Hiện chưa ghi được lời khai của anh H và anh H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tách tiếp tục điều tra, xác minh giải quyết là đúng pháp luật.
[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai mua 02 ống ma túy của một người đàn ông khoảng 20 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ tại khu vực chợ Cầu, xã D, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với giá 500.000 đồng vào ngày 04-7-2020. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo Đ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[9] Đối với anh Nguyễn Xuân H có hành vi mua 0,0514 gam ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Văn Đ, mục đích sử dụng cá nhân. Xét thấy anh H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về tội quy định tại Điều 249 hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự, lượng ma túy anh H tàng trữ chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính đối với anh Hà là đúng pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 06-7-2020; phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đồng nộp ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 0,0306 gam (Không phẩy không nghìn ba trăm linh sáu gam) mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Nguyễn Xuân H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định M1, số 263/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
Tịch thu tiêu huỷ 0,1110 gam (Không phẩy một nghìn một trăm mười gam) mẫu vật gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Nguyễn Văn Đ trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định M2, số 263/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000đồng thu của bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Vật chứng của vụ án hiện Đ do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28-10-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà; - Công an huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Chuyên |