- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn V, Trần Ngọc N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2020/HS-ST ngày 25/5/2020 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2020/HS-PT Ngày: 05-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Th m phán - h t a phiên t a: Bà Nguyễn Thị Sang;
Th m phán thành viên: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương t ử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số 114/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Trần Văn Vvà đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Vvà Trần Ngọc N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2020/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị ã U tỉnh Bình Dương.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn V sinh năm 1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn N, xã C huyện S tỉnh Quảng Ngãi; nơi tạm trú: Khu phố B phường K thị ã U, tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn B, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2017; tiền sự tiền án: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2019 cho đến nay bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Ngọc N sinh năm 1997 tại tỉnh Bạc Liêu; thường trú: Ấp TH 1B, xã VA huyện L tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Cư á HL 2 Tổ 5 khu phố 7 phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Trần Văn P sinh năm 1970 và bà Trương Thị T sinh năm 1976; bị cáo chưa vợ, con; tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2019 cho đến nay bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong v án còn có 07 bị cáo bị hại không kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần L được giao nhiệm v kiểm tra nhận hàng và uất hàng tại kho bao bì của Công ty F(gọi tắt là Công ty A) có tr s tại khu phố 7 phường UH, thị ã U tỉnh Bình Dương. Các bị cáo Trần Văn V, Trần Văn B, Dương Sô P và Trần Ngọc N là công nhân giao hàng của Công ty LH; bị cáo Nguyễn Văn Nhí N là công nhân giao hàng của Công ty V. Bị cáo Trần L đã bàn bạc với các bị cáo Trần Văn V, Trần Văn B, Dương Sô P, Trần Ngọc N và Nguyễn Văn Nhí N về việc chiếm đoạt tài sản của Công ty A bán lấy tiền tiêu xài và thoả thuận về việc chia nhau như sau: Đối với số hàng của Công ty LH giao cho Công ty A thì các bị cáo Trần L, Trầ Văn V và Trần Văn B thoả thuận chia đôi; đối với số hàng của Công ty V giao cho Công ty A thì các bị cáo Trần L và Nguyễn Văn Nhí N thỏa thuận là bị cáo Trần L được chia 60% giá trị, bị cáo Nguyễn Văn Nhí N được chia 40% giá trị. Hành vi phạm tội của các bị cáo c thể như sau:
- Lần thứ 1: Ngày 07/6/2019, các bị cáo Trần Văn V và Trần Ngọc N được Công ty LH phân công giao 96 cuộn mút ốp quy cách (0,8m x 1,2m) cho Công ty A. Sau khi nhận hàng bị cáo Trần Văn V gọi điện thoại thông báo cho bị cáo Trần L biết và các bị cáo thoả thuận sẽ lấy 20 cuộn mút ốp đem ra ngoài bán. Sau đó bị cáo Trần Văn V nói lại ý định trên thì bị cáo Nguyễn Ngọc N đồng ý cùng thực hiện. Các bị cáo Trần Văn V và Nguyễn Ngọc N đến Công ty A giao 76 cuộn mút ốp nhưng bị cáo Trần L ký nhận đủ 96 cuộn mút ốp. Sau đó, các bị cáo Trần Văn V và Nguyễn Ngọc N ch 20 cuộn mút ốp còn lại đến nhà Trần Quảng H, biết đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng Trần Quảng H vẫn đồng ý mua 20 cuộn mút ốp với giá 4.000.000 đồng. Bị cáo Trần Văn V chia cho bị cáo Trần L 2.000.000 đồng và bị cáo Nguyễn Ngọc N 600.000 đồng giữ lại 1.400.000 đồng.
- Lần thứ 2: Ngày 21/6/2019, các bị cáo Trần Văn Vvà Trần Ngọc N được Công ty LH phân công giao 100 cuộn mút ốp quy cách (0,8m x1,2m) cho Công ty A. Sau khi nhận hàng bị cáo Trần Văn V gọi điện thông báo cho bị cáo Trần L thì các bị cáo thoả thuận sẽ lấy 40 cuộn mút ốp đem ra ngoài bán. Bị cáo Trần Văn V có nói với bị cáo Nguyễn Ngọc N về nội dung đã trao đổi với bị cáo Trần L thì bị cáo Nguyễn Ngọc N đồng ý cùng thực hiện. Sau đó các bị cáo Trần Văn V và Nguyễn Ngọc N đến Công ty A giao 60 cuộn mút ốp nhưng bị cáo Trần L ký nhận đủ 100 cuộn mút ốp vào phiếu giao hàng. Các bị cáo Trần Văn V và Nguyễn Ngọc N ch 40 cuộn mút ốp còn lại đến nhà Trần Quảng Q. Biết đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng Quỳnh vẫn đồng ý mua 40 cuộn mút ốp với giá 8.000.000 đồng. Bị cáo Việt chia cho bị cáo Trần L 4.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Ngọc N 800.000 đồng giữ lại 3.200.000 đồng.
- Lần thứ 3: Ngày 22/6/2019, các bị cáo Trần Văn B và Dương Sô P được Công ty LH phân công giao 45 cuộn mút ốp quy cách (0,8m x1,2m) cho Công ty A. Sau khi nhận hàng bị cáo Bình gọi điện thông báo cho bị cáo Trần L thì các bị cáo thống nhất đem 45 cuộn mút ốp đi bán rồi đưa phiếu giao hàng cho bị cáo Trần L ký khống. Sau đó bị cáo Trần Văn B gọi điện nhờ bị cáo Trần Văn V chỉ chỗ tiêu th số hàng trên thì bị cáo Việt nói sẽ bán giúp nhưng bị cáo Bình phải trả tiền e thì bị cáo Trần Văn B đồng ý. Các bị cáo Trần Văn B và Dương Sô P chạy e đến gần cây ăng Nam U thuộc phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương chờ bị cáo Trần Văn V. Khi e của bị cáo Trần Văn V đến thì các bị cáo Trần Văn B và Dương Sô P chuyển 45 cuộn mút ốp sang e của bị cáo Việt. Sau đó các bị cáo Trần Văn B và Dương Sô P đến Công ty A đưa phiếu giao hàng cho bị cáo Trần L ký khống nhận đủ 45 cuộn mút ốp. Bị cáo Trần Văn V ch 45 cuộn mút ốp đến nhà Trần Quảng H. Biết đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng Trần Quảng H vẫn đồng ý mua 45 cuộn mút ốp với giá 9.000.000 đồng. Sau khi bị cáo Trần Văn V giao lại số tiền 9.000.000 đồng thì bị cáo Trần Văn B chia cho bị cáo Trần Văn V 400.000 đồng bị cáo Trần L 4.500.000 đồng bị cáo Dương Sô P 1.200.000 đồng và giữ lại 2.900.000 đồng.
- Lần thứ 4: Ngày 02/7/2019, bị cáo Nguyễn Văn Nhí N được phân công ch 15.000 cái góc giấy và một số bìa giấy từ Công ty V đến Công ty A. Sau khi nhận hàng bị cáo Nguyễn Văn Nhí N gọi điện thông báo cho bị cáo Trần L thì bị cáo Trần L nói mang 15.000 cái góc giấy đem bán rồi đưa phiếu giao hàng cho bị cáo Trần L ký khống. Sau đó bị cáo Nguyễn Văn Nhí N ch 15.000 cái góc giấy đến nhà Đỗ Huy T. Biết đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng Đỗ Huy T vẫn đồng ý mua 15.000 cái góc giấy với giá 2.550.000 đồng. Sau đó bị cáo Nguyễn Văn Nhí N đến Công ty A giao số bìa giấy nhưng bị cáo Trần L vẫn ký khống nhận đủ 15.000 cái góc giấy và số bìa giấy. Bị phát hiện nên cùng ngày 02/7/2019 bị cáo Nguyễn Văn Nhí N đã đến gặp bị cáo Đỗ Huy T chuộc lại 15.000 cái góc giấy để trả lại cho Công ty A.
Cùng ngày 02/7/2019, Công ty A trình báo sự việc Công an phường UH mời các đối tượng về tr s làm việc thì các bị cáo Trần L, Trần Văn V, Trần Văn B, Nguyễn Văn Nhí N, Nguyễn Ngọc N, Dương Sô P, Trần Quảng H, Trần Quảng Q và Đỗ Huy T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Công an phường UH lập hồ sơ ban đầu chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã U giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 197/KLTS-TTHS ngày 10/07/2019 của Hội đồng định giá tài sản thị ã U kết luận: 42.000 m t (105 cuộn) mút ốp mã hàng WP2502001, quy cách (1.2 x 0.8) mét 400 m t trị giá là 31.500.000 đồng; 15.000 cái góc giấy mã hàng CC050000003 quy cách 250*250*0 trị giá là 16.920.000 đồng; tổng cộng là 48.420.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2020/HS-ST, ngày 25/5/2020 của Toà án nhân dân thị ã U tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Trần L, Trần Văn V, Trần Văn B, Trần Ngọc N, Dương Sô P và Nguyễn Văn Nhí N phạm tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tuyên bố các bị cáo Trần Quảng H, Trần Quảng Q và Đỗ Huy T phạm tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về hình phạt:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự ử phạt: Bị cáo Trần Văn V01 (một) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự ử phạt: Bị cáo Trần Ngọc N 10 (mười) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn ử phạt: Bị cáo Trần L01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; bị cáo Trần Văn B 10 (mười) tháng tù tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hư ng án treo tại Bản án số 119/2018/HSPT ngày 09/11/2018 của TAND tỉnh Bình Dương buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù; bị cáo Dương Sô P08 (tám) tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án; bị cáo Nguyễn Văn Nhí N 08 (tám) tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án; bị cáo Trần Quảng H 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng); bị cáo Đỗ Huy T 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng); bị cáo Trần Quảng Q 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Bản án còn tuyên về biện pháp tư pháp án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo người tham gia tố t ng khác.
Ngày 08/6/2020 bị cáo Trần Văn Vkháng cáo in giảm nhẹ hình phạt chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Trần Ngọc Nkháng cáo in được hư ng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên t a trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo đơn kháng cáo của các bị cáo còn trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra t ử theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo thẩm quyền và quy định tại Điều 332 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm ác định. Các bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt nhưng các bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên Tòa án cấp sơ thẩm ử phạt bị cáo Việt mức án 01 (một) năm tù bị cáo Nguyễn Ngọc N mức án 10 (mười) tháng tù là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng t ử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại phần tranh luận và trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng t ử em t giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng t ử nhận định như sau:
Bị cáo Trần Lđược giao nhiệm v kiểm tra nhận hàng và uất hàng tại kho bao bì của Công ty A; các bị cáo Trần Văn V, Trần Văn B, Dương Sô P và Trần Ngọc N là công nhân giao hàng của Công ty LH; bị cáo Nguyễn Văn Nhí N là công nhân giao hàng của Công ty V. Lợi d ng nhiệm v được giao và sự tin tư ng của công ty A, vào các ngày 07/6/2019, 21/6/2019, 22/6/2019 và 02/7/2019 Trần L đã bàn bạc cùng Trần Văn V, Trần Ngọc N, Trần Văn B, Dương Sô Pvà Nguyễn Văn Nhí N cùng nhau chiếm đoạt 105 cuộn mút ốp và 15.000 cái góc giấy của Công ty A đem bán cho Trần Quảng H, Trần Quảng Q và Đỗ Huy T lấy tiền chia nhau tiêu xài. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt của Công ty A là 48.420.000 đồng. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm t ử các bị cáo Trần Trần L, Trần Văn V, Trần Văn B, Dương Sô P, Trần Ngọc N và Nguyễn Văn Nhí Nvề tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng pháp luật.
Xét kháng c a bị cáo Trần Văn V, Trần Ng c N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm ác định đúng tội danh khung hình phạt áp d ng đối với các bị cáo Việt Nguyễn Ngọc N; đánh giá tính chất mức độ phạm tội em t đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ử phạt bị cáo Trần Văn V mức án 01 (một) năm tù bị cáo Nguyễn Ngọc N mức án 10 (mười) tháng tù là phù hợp. Bị cáo Trần Văn V kháng cáo in chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Nguyễn Ngọc N kháng cáo in hư ng án treo. Tuy nhiên các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (Trần Văn V thực hiện 03 lần Nguyễn Ngọc N thực hiện 02 lần mỗi lần đều đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự); với tính chất mức độ thực hiện tội phạm của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng t ử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp nên Hội đồng t ử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Văn V, Trần Ngọc N phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn V, Trần Ngọc N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2020/HS-ST ngày 25/5/2020 của Toà án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương.
Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm tù về tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc N 10 (mười) tháng tù về tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Trần Văn V và Trần Ngọc N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị ã U; 2 - VKSND thị ã U ; 1 - Chi c c THADS thị ã U ; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị ã U ; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Ủy ban nhân dân phường Tân Hiệp 1 - Bị cáo; 3 - Lưu: Tổ HCTP HSVA Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |