- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Diệp Hồng T. Cho chị Lê Diệp Hồng T được ly hôn với anh Ngô Quốc C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2020/HN&GĐ-ST Ngày: 25 - 6 - 2020 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
- Các hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Thị Út.
Bà Trương Thị Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2020/TLST - HN&GĐ ngày 04/3/2020 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Diệp Hồng T, sinh năm: 1994.
Hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã P, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Số 56, khóm 3, phường 8, thành phố T, tỉnh T. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Ngô Quốc C, sinh năm: 1992.
Địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã P, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/02/2020 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Diệp Hồng T trình bày: Vào năm 2012 chị và anh Ngô Quốc C tổ chức lễ cưới đến ngày 05/05/2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Long Phú, Hện Long Mỹ (cũ) nay là thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do chị và anh C tự nguyện. Chị và anh C chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, chị và anh C đã ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay.
Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị T và anh C có một con chung tên Ngô Quốc H (nam), sinh ngày 19/7/2015, con chung hiện nay chị nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Ngô Quốc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán được phân công đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định mối quan hệ tranh chấp, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, gửi quyết định xét xử cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo thủ tục quy định về phiên toà sơ thẩm. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay chị T đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70,71, Bộ Luật Tố tụng dân sự, anh C chưa thực hiện đúng Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kiểm sát viên đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Diệp Hồng T. Cho chị Lê Diệp Hồng T được ly hôn với anh Ngô Quốc C.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Ngô Quốc H (nam), sinh ngày 19/7/2015 cho chị Lê Diệp Hồng T nuôi dưỡng. Chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh C, không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.
Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị án phí đương sự phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Ngô Quốc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh C.
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Diệp Hồng T và anh Ngô Quốc C tổ chức lễ cưới vào năm 2012, đến ngày 05/5/2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Phú, Hện Long Mỹ (cũ) nay là thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C là hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Chị T và anh C chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tại phiên tòa chị T trình bày là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, chị và anh C đã ly thân từ cuối năm 2018 đến nay. Từ khi ly thân đến nay chị không liên lạc được với anh C và anh C cũng không liên lạc với chị. Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị T và anh C hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng nhưng anh C vắng mặt và tại phiên tòa chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh C. Điều đó cho thấy tình nghĩa vợ chồng giữa chị T và anh C không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T và anh C có một con chung tên Ngô Quốc H (nam), sinh ngày 19/7/2015, con chung hiện nay chị T nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân đến nay, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh C không đến thăm con chung chứng tỏ anh C không quan tâm, lo lắng con chung. Để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu H nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu H cho chị T nuôi dưỡng. Chị T chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc chon chung cho anh C không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Diệp Hồng T. Cho chị Lê Diệp Hồng T được ly hôn với anh Ngô Quốc C.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Ngô Quốc H (nam), sinh ngày 19/7/2015 cho chị Lê Diệp Hồng T nuôi dưỡng. Chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh C, không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Diệp Hồng T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), cHển 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu 0000302 ngày 04/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành án phí. Chị T đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Lê Diệp Hồng T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 25/6/2020. Bị đơn anh Ngô Quốc C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - VKSND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS TX Long Mỹ; - UBND xã Long Phú; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Văn Lẫm |