vanban.org

Bản án 109/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ Tuyên án 18/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT về việc đòi nợ đối với anh Nguyễn Thanh S.

Buộc anh Nguyễn Thanh S phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT số tiền 42.896.345đồng. Trong đó, vốn gốc là 24.034.384đồng, lãi quá hạn là 18.861.961đồng (lãi tính đến ngày 18/9/2020). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (19/9/2020), anh S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT về việc đòi nợ đối với anh Nguyễn Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN Về việc sửa đổi, bổ sung một…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2020/DS-ST
Ngày: 18-9-2020
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Hùng Dũng

2. Ông Dương Hùng Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2020/TLST- DS ngày 14 tháng 7 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2020/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT. Địa chỉ trụ sở: 266-268, đường NKKN, phường 8, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hồ Thanh L sinh năm 1964. Nơi cư trú: Số 95/97/99 đường VVT, phường TA, quận NK, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền số 1007/2020/UQ-CNCT ngày 24/6/2020 “có mặt”

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh S sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 6 năm 2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Hồ Thanh Lâm trình bày:

Ngày 26/3/2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT với anh Nguyễn Thanh S ký kết Hợp đồng cấp thẻ tín dụng hạn mức 25.000.000đồng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng), mục đích sử dụng tiêu dùng cá nhân, lãi suất vay là 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, vay không có tài sản bảo đảm. Quá trình thực hiện hợp đồng anh S thực hiện giao dịch với tổng số tiền 25.252.000đồng, số tiền đã thanh toán 7.300.000đồng. Sau đó, anh S không thanh toán nữa, khoản nợ đã chuyển quá hạn ngày 26/12/2018. Ngân hàng nhiều lần yêu cầu anh S thanh toán nợ nhưng anh S không thực hiện. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh S phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 24.034.384đồng và tiền nợ lãi là 18.861.961đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 42.896.345đồng.

Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Thanh S vắng mặt. Vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Người đại diện của Ngân hàng yêu cầu anh S phải trả cho Ngân hàng số tiền 42.896.345đồng. Trong đó, vốn gốc là 24.034.384đồng, tiền lãi quá hạn 18.861.961đồng (lãi tính đến ngày 18/9/2020). Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu anh S tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán tất nợ.

Bị đơn vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Thanh S phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT số tiền 42.896.345 đồng (bao gồm vốn và lãi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh S trả nợ theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký. Do đó, tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về việc tham gia tố tụng: Anh Nguyễn Thanh S là bị đơn, không có yêu cầu phản tố được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt.

Về nội dung:

Về tiền vốn vay: Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT với anh S ký Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số tiền 25.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng anh S thực hiện các giao dịch với số tiền 25.252.000đồng, nhưng sau đó anh S vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở yêu cầu trả nợ nhưng anh S vẫn không thực hiện, ngày 26/12/2018 số nợ trên đã chuyển nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh S trả nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

Về tiền lãi: Theo thỏa thuận trong hợp đồng, lãi suất cho vay là 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay. Xét thấy, việc các bên thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là đúng pháp luật phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 11; Điều 24, Điều 25 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng (được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Quá trình thực hiện hợp đồng anh S vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Theo bảng kê chiết tính tiền vay chi tiết thì tính đến ngày 29/9/2020 tổng số nợ gốc và nợ lãi mà anh S còn nợ Ngân hàng số tiền là 42.896.345đồng, đối chiếu với hợp đồng vay, bảng kê chiết tính chi tiết mà Ngân hàng cung cấp số tiền mà anh S nợ là đúng. Do đó cần buộc anh S phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT số tiền trên là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 11; Điều 24; Điều 25 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-02-2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT về việc đòi nợ đối với anh Nguyễn Thanh S.

Buộc anh Nguyễn Thanh S phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT số tiền 42.896.345đồng. Trong đó, vốn gốc là 24.034.384đồng, lãi quá hạn là 18.861.961đồng (lãi tính đến ngày 18/9/2020).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (19/9/2020), anh S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Buộc anh Nguyễn Thanh S phải nộp 1.072.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (có xét giảm theo đơn).

Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT được nhận lại 1.001.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 013257 ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CĐ, thành phố Cần Thơ.

Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ