vanban.org

Bản án 109/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo La Anh D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Xử phạt: Bị cáo La Anh D 12( mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 20/10/2019. Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "La Anh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo La Anh D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2019/ HSST
Ngày 29/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang - Thẩm phán

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thành Đô

2. Ông Ngô Thanh Xuân

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Cường, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ, kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2019, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2019/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2019/QĐXXST-HS ngày 15/11/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: La Anh D, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 09/12; Con ông La Trần H, sinh năm 1971 và con bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự, tiền án: không

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2019 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh La Trần H, sinh năm 1971( có mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976 (vắng mặt)

2. Chị Đào Thị V, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Cùng cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/10/2019, tại trước cổng nhà nghỉ TB ở thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang bị cáo La Anh D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại lòng bàn tay trái của D: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.

- Thu tại túi quần phía trước bên phải đang mặc của D: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong có: 06 túi nilon màu trắng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh, trong đó 01 túi đựng chất cục bột màu hồng đỏ, 01 túi đựng chất tinh thể màu trắng lẫn chất bột màu hồng đỏ, 04 túi còn lại không đựng gì; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ bên trong đựng chất cục bột màu xanh; 01 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong không có gì. Tất cả được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “KT”.

- 01 ví màu nâu bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên La Anh D, 01 đăng ký xe mô tô 12H1-155.79 mang tên La Trần H và 82.000 đồng; 01 điện thoại Iphone; 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-155.79.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của D: Không thu giữ được gì.

Ngày 20/10/2019, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Lạng Giang đã quyết định trưng cầu giám định số 176 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, giám định đối với vật chứng niêm phong trong phong bì có ký hiệu "QT" và “KT”.

Tại kết luận giám định số 1669/KL-KTHS, ngày 22/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Trong phong bì có ký hiệu “QT” đã niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,485 gam.

- Trong phong bì có ký hiệu “KT” đã niêm phong gửi giám định: Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ:

+ Chất cục bột màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,013 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng và chất cục bột màu hồng đỏ bám dính trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh đều là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,004 gam.

+ Chất cục bột màu xanh đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,011 gam.

Quá trình điều tra La Anh D khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 20/10/2019, D điều khiển xe mô tô 12H1-155.79 đến đón bạn gái là Vương Thị Thanh H, sinh năm 2001 ở thôn P, xã H, huyện L đến sân vận động ở thành phố B xem D đá bóng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, D chở H về thị trấn K, huyện L, khi về đến khu vực gần quán cà phê Duy Anh thì D bảo H ngồi ở xe chờ còn Du đi vào ngõ nhờ một người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm mua hộ 500.000 đồng tiền ma tuý đá để sử dụng, người này đồng ý và cầm tiền của D đi mua, một lúc sau thì quay lại đưa cho D túi 01 nilon đựng ma tuý đá. D cầm túi ma tuý ở tay rồi đi ra chở H đến nhà nghỉ TB ở thôn L, xã T, huyện L thuê phòng số 36 để nghỉ. Khi H nằm nghỉ trên phòng thì D đi xuống đứng ở trước khu vực cổng nhà nghỉ để chờ bạn, túi ma tuý mua được D vẫn cầm ở tay trái thì bị Công an huyện Lạng Giang phát hiện bắt quả tang. Số ma tuý bị thu tại túi quần. Bị cáo D khai nhận: Trước đó, ngày 19/10/2019 D cũng nhờ người đàn ông xe ôm mua hộ rồi mang về nhà sử dụng vẫn còn thừa một ít trong 03 túi nilon và để cùng với 04 túi nilon không chứa gì rồi cho vào 01 túi nilon để trong túi quần phía trước bên phải. Mục đích D tàng trữ ma tuý để sử dụng dần.

Quá trình điều tra bị cáo La Anh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKS-LG ngày 12/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo La Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông La Trần H có mặt tại phiên tòa, ông khai: Chiếc xe mô tô mà bị cáo sử dụng khi bị bắt quả tang đang cất giữ ma túy là xe của ông. Việc bị cáo mua và sử dụng ma túy ông không biết. Chiếc xe ông đã được trả lại, nay ông không có đề nghị gì.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng các tài liệu có trong hồ sơ đã khai rõ diễn biến họ đã chứng kiến khi cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo La Anh D có hành vi cất giữ trái phép ma túy trong người.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo La Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo La Anh D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 20/10/2019, đề nghị miễn phạt bổ sung bị cáo;

- Về vật chứng: ĐÒ nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 02 phong bì có ký hiệu “QT” và “KT” bên trong đựng chất ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định, 01 đoạn ống nhựa.

Đề nghị trả lại bị cáo số tiền 82.000 đồng, 01 ví màu nâu, 01 điện thoại Iphone, 01 giấy phép lái xe mang tên La Anh D, nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền và 01 điện thoại Iphone để đảm bảo thi hành án, đồng thời đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Trước cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/10/2019, cũng như các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, cũng như kết luận giám định, đã thể hiện:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/10/2019, tại khu vực trước cổng nhà nghỉ TB ở thôn L, xã T, huyện L, bị cáo La Anh D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,513 gam ma tuý Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Lạng Giang phát hiện bắt quả tang.

Như vậy, HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo La Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thấy: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bªn c¹nh ®ã, nã cßn lµ nguyªn nh©n vµ ®iÒu kiÖn ph¸t sinh c¸c lo¹i téi ph¹m vµ tÖ n¹n x· héi kh¸c. §èi víi lo¹i téi ph¹m vÒ ma tóy, Nhµ n íc ta ®· vµ ®ang cã nh÷ng chÕ tµi hÕt søc nghiªm kh¾c. Song, các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Do đó cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội như đại diện VKSND huyện đã đề nghị.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ được Chủ tịch UBND huyện nhiều lần khen thưởng, gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329- BLTTHS.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, chưa có tài sản riêng và chưa có thu nhập ổn định, sống cùng bố mẹ, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Về nguồn gốc số ma túy, D khai nhờ một người đàn ông làm nghề xe ôm không quen biết mua hộ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với chị H, không biết việc D mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của D tại nhà ở, Cơ quan điều tra đã thông báo và chuyển tài liệu đến Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn để xem xét, xử lý theo thẩm quyền là phù hợp pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12H1-155.79 và 01 giấy đăng ký xe mang tên La Trần H là tài sản của ông La Trần H, sinh năm 1971 (bố đẻ D).Ông H không biết việc D mua ma tuý sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H là phù hợp nên không phải giải quyết nữa.

Những vật chứng còn lại chuyển theo hồ sơ HĐXX thấy:

- 02 phong bì có ký hiệu “QT” và “KT” bên trong đựng chất ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định, 01 đoạn ống nhựa đây là chất cấm lưu hành và là vật để bị cáo D sử dụng ma túy trái phép nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với số tiền 82.000 đồng, 01 ví màu nâu, 01 điện thoại Iphone, 01 giấy phép lái xe mang tên La Anh D đây là tài sản và giấy tờ hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ lại số tiền và chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Với những nhận định trên đây, HĐXX thấy những ý kiến phát biểu đề nghị về đường lối giải quyết vụ án của đại diện VKSND huyện là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo La Anh D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; các Điều 293, 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo La Anh D 12( mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 20/10/2019. Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì có ký hiệu “QT” và “KT” bên trong đựng chất ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định, 01 đoạn ống nhựa.

- Trả lại bị cáo số tiền 82.000 đồng, 01 ví màu nâu, 01 điện thoại Iphone, 01 giấy phép lái xe mang tên La Anh D, nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền và 01 điện thoại Iphone để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).

- Về án phí: Áp dụng Điều 135 và 136 - BLTTHS và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo La Anh D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ