- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2018/HS-ST Ngày: 07/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tiến
- Bà Hà Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh -Thư ký Toà án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 9/270 ĐBP, phường BH, thành phố HD, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo : Không; Giới tính: Nam; Trình độ ho ̣c vấn : 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1946. Gia đình có 3 chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; Có 02 con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Tại Quyết định số 11 ngày 22/01/2018, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Nhân thân: Bản án số 83/2013/HSST ngày 13/6/2013, Tòa án nhân dân thành phố HD xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 16/01/2015.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2018 đến ngày 04/3/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam KC, Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Nam S, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 1/27 ĐX, phường TP, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1998
Địa chỉ: khu 7 ĐN, phường VH, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.
(Vắng mặt những người làm chứng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua ma túy để sử du ̣ng và bán kiếm lờ i , nên khoảng 09 giờ ngày 26/02/2018, Nguyễn Minh Đ là lái xe cho hãng taxi Thành Đông đến khu vực trước cửa nhà hàng 559, phường BH, thành phố HD mua của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy tổng hợp với số tiền 450.000đồng. Đến khoảng 01 giờ ngày 27/02/2018, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Hồng Hà I tại đường NQ, phường TB, thành phố HD, khi Đ đang thực hiện hành vi bán 01 gói ma túy cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; trú tại: khu 12, phường NC, thành phố HD với số tiền 500.000đồng thì bị lực lượng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ trên tay phải T 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, thu giữ của Đ số tiền 550.000đồng và 01 xe ô tô Mitsubishi BKS 34A-179.46.
Nguyễn Văn T đã bỏ trốn sau khi làm việc với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương, không xác định được nơi cư trú.
Tại Kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 202/KLGĐ-PC47 ngày 01/3/2018, Phòng kỹ thuâ ̣t hinh sự công an tinh Hả
̉i Dương , xác định: Chất rắn (dạng tinh thể) màu
̀ trắng ghi thu của Nguyễn Văn T, gửi đến giám định có khối lượng 0,091 gam là loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất nằm trong danh mục II, STT: 67, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Về vật chứng: Đối với 0,042 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong 01 bì niêm phong số 202/KLGĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; số tiền 550.000đ thu giữ của Nguyễn Minh Đ hiện đang quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HD (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố HD và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HD).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
Tại Cáo trạng số 96/CT-VKSTPHD ngày 08/5/2018, Viện kiểm sát nhân thành phố HD, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 27 (Hai mươi bảy) đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/02/2018; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,042 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) do bị cáo phạm tội mà có; Trả lại bị cáo 50.000đ (Năm mươi ngàn đồng) Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án; Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Minh Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ ngày 27/02/2018, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Hồng Hà I ở đường NQ, phường TB, thành phố HD, Nguyễn Minh Đ đang bán trái phép 0,091 gam Methamphetamine cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn T thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tô ̣i pha ̣m về ma túy Công an tỉnh Hải Dương (PC 47) bắt quả tang thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Chất ma túy có chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến sức khỏe của con người cũng như toàn xã hội. Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố HD xử phạt về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bố, mẹ đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Xuân Đ và bà Nguyễn Thị B được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề lái xe, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với 0,042 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo là số tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 50.000 đồng (Năm mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo không không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với chiếc xe ô tô Mitsubishi mang BKS 34A-179.46 là phương tiện bị cáo Đ sử dụng vào việc phạm tội thuộc sở hữu hợp pháp của Doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ Hương Nguyên. Đại diện doanh nghiệp là ông Lê Văn H khi giao xe cho Đ không biết Đ sử dụng vào việc phạm tội, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng mua ma túy của bị cáo Nguyễn Minh Đ, quá trình điều tra tự khai là Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; trú tại: khu 12, phường NC, thành phố HD. Trong quá trình làm việc, lợi dụng sơ hở của lực lượng chức năng đã bỏ trốn. Cơ quan công an đã xác minh tại phường NC, thành phố HD nhưng không có ai tên Nguyễn Văn T có lý lịch như trên nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý.
- Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh Đ tại khu vực nhà hàng 559, phường BH, thành phố HD. Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi của đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xem xét, xử lý theo pháp luật.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố HD, Điều tra viên, VKSND thành phố HD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a,b khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2018.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,042 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì thư số 202/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đồng (năm trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo do phạm tội mà có được đựng trong phong bì niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của những người có liên quan và 03 dấu niêm phong của Công an phường TB, TP Hải Dương (phong bì 110B).
- Trả lại bị cáo 50.000 đồng (Năm mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án được đựng trong phong bì niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của những người có liên quan và 03 dấu niêm phong của Công an phường TB, TP Hải Dương (phong bì 110A).
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố HD và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HD ngày 23/5/2018).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND thành phố HD; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an thành phố HD; - Chi cục THADS thành phố HD; - Trại tạm giam KC; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |