vanban.org

Bản án 109/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/01/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy V - Nguyễn Thành H"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 109/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 22-01-2018

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Lê Thị Xuân Lang

2. Bà Nguyễn Hồng Hà

-" Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 512/2017/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

-"Nguyên"đơn:"Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Reading PA 19609, USA.

- Bị"đơn: Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện ngày 19/9/2017 của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy V và các lời khai trong quá trình tố tụng, bà V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thành H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 08/02/2017. Sau khi kết hôn bà cảm thấy không hạnh phúc do hai người có suy nghĩ và cách sống khác nhau, hai bên có những mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành H. Do bận việc và không thuận lợi về khoảng cách địa lý, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 13/12/2017, bị đơn là ông Nguyễn Thành H xác nhận lời khai của bà V về thời điểm đăng ký kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung và nợ chung không có là đúng. Nay bà V xin ly hôn thì ông đồng ý được ly hôn với bà V. Do bận việc, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy V, Hội đồng xét xử nhận thấy bà V và ông H kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy V yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thành H, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà V và ông H thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà V và ông H không có quá trình chung sống lâu dài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà V và ông H đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà V yêu cầu ly hôn với ông H là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Thúy V và ông Nguyễn Thành H đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Vân chịu.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:!

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy V được ly hôn với ông Nguyễn Thành H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 08/02/2017 do Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Thúy V và ông Nguyễn Thành H không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Thúy V và ông Nguyễn Thành H đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thúy V chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà V đã đóng tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2017/0048039, ngày 27/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thúy V đã nộp đủ tiền án phí.

4. Bà Nguyễn Thị Thúy V được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Nguyễn Thành H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ