vanban.org

Bản án 1084/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Anh T.

Về con chung: Giao cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 05/12/2008, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà L cho đến khi ông Tuấn có yêu cầu. Ông T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, theo cầu của ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Thị L - Ông Huỳnh Anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1084/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 22/9/2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Minh Đang.

2. Bà Thái Thục Hiền.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1028/2014/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2014 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Anh T, địa chỉ: đường B, Phường D, Quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 30 tháng 10 năm 2014 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày: Bà L và ông Huỳnh Anh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống vợ chồng ông bà có một con chung tên Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 05/12/2008; thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau vợ chồng sống không hòa hợp, gia đình thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không thể vun đắp chung được cuộc sống gia đình, đời sống vợ chồng không thể kéo dài được nữa, vợ chồng sống không có hạnh phúc nên đã tự sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Hiện nay tình cảm của bà L đối với ông T không còn nữa. Tại Tòa bà L yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà L yêu cầu được giao con cho ông T nuôi dưỡng do con trẻ đang sống với cha, việc cấp dưỡng nuôi con bà yêu cầu được tạm hoãn cho đến khi ông T có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có.

Đối với bị đơn ông Huỳnh Anh T: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông T đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông T không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét đơn khởi kiện của bà Phan Thị L thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn; do bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét nguyên đơn bà Phan Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Huỳnh Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Xét việc bà Phan Thị L và ông Huỳnh Anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại xã B, huyện C, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận kết hôn số 90/2008, quyển số 01/2008 đăng ký ngày 03/11/2008 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét việc Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T đến Tòa để hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng ông T không đến. Chứng tỏ ông T thiếu thiện chí để hòa giải những mâu thuẫn giữa vợ chồng, không xem trọng cuộc sống chung vợ chồng nên căn cứ theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Xét yêu cầu của bà L xin được ly hôn với ông T do bà L không còn tình cảm với ông T, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không có tình nghĩa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài và hai bên đã tự sống ly thân. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng vợ chồng vẫn sống ly thân, bỏ mặc nhau, không còn yêu thương nhau, không giúp đỡ để cùng nhau phát triển. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung: Quá trình chung sống bà L và ông T có một con chung, bà L yêu cầu được giao con cho ông T nuôi dưỡng do con trẻ đang sống với cha, việc cấp dưỡng nuôi con bà yêu cầu được tạm hoãn cho đến khi ông T có yêu cầu; yêu cầu này phù hợp với thực tế, với nguyện vọng của con trẻ, đảm bảo quyền lợi cho con trẻ. Vì vậy, căn cứ vào Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 05/12/2008 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà L cho đến khi ông T có yêu cầu.

Xét về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu theo qui định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Anh T.

2. Về con chung: Giao cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Anh Đ, sinh ngày 05/12/2008, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà L cho đến khi ông Tuấn có yêu cầu.

Ông T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, theo cầu của cha, mẹ, người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) bà L phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 03972 ngày 03/12/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà L đã thi hành xong phần án phí dân sự sơ thẩm.

5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ