vanban.org

Bản án 108

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] .Áp dụng điểm c, d khoản 2,5 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015,

điểm s, t khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 54, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; 1 Xử phạt : Nguyễn Thị Ng 03 năm tù về tội “ Chứa mại dâm”, thời hạn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nghuyễn Thi Ng chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] .Áp dụng điểm c, d khoản 2,5 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015,
  • Căn cứ chính? Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n HuyÖn L¹ng Giang Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

tØnh B¾c giang
B¶n ¸n sè: 108/2021/HSST
Ngµy 29/11/2021

Nh©n danh

N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn l¹ng giang, tØnh b¾c giang

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Lê Thu Hà.

C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1. Ông Lê Văn La

2. Bà Ngô Thị Mai

Th ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thư ký Toµ ¸n

nh©n d©n huyÖn L¹ng Giang, tØnh B¾c Giang.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn L¹ng Giang tham gia phiªn toµ:

Ông Lê Đình Tuấn - KiÓm s¸t viªn trung cÊp.

Ngày 29/11/2021 t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn L¹ng Giang, tØnh B¾c

Giang xÐt xö s¬ thÈm, c«ng khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè 104/2021/HSST ngµy 03 th¸ng 11 n¨m 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109A/ 2021/QĐXX-ST ngày 13/11/2021 ®èi víi các bÞ c¸o:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1969; tên go ̣i khác: Không; Giới

tính: Nữ; Nơi cư trú: tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; Bố đẻ: Nguyễn Văn Nh , sinh năm 1920 (đã chết); mẹ đẻ: Trương Thị T , sinh năm 1930 (đã chết). Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Chồng: Nguyễn Văn K , sinh năm 1965 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 33/2005/HS-ST ngày 19/8/2005, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Chứa mại dâm”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/01/2007, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/12/2005; Bản án số 65/2012/HSST ngày 27/7/2012, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Chứa mại dâm”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2014, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm ngày 12/6/2015; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2021 đến ngày 12/10/2021 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.( Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Đặng Tuấn S, sinh năm 1964; tên go ̣i khác : Không; Giới

tính: Nam; Nơi cư trú: tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; Bố đẻ: Đặng Tuấn U , sinh năm 1939 (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị M , sinh năm 1942. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị C , sinh năm 1973. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2021 đến ngày 02/11/2021 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Kim A , sinh năm 1992

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị La Thị S , sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn C, xã S , thị xã N, tỉnh Y

3. Chị Vì Thị M , sinh năm 1990

Nơi cư trú: Đội 2, xã Nghĩa S, huyện V, tỉnh Y

4. Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1996

Nơi cư trú: Thôn Ng, xã L, huyện Lên, tỉnh Y.

5. Chị Cà Thi H , sinh năm 1998

Nơi cư trú: Bản M, xã P, huyện Đ, tỉnh BB

6. Chị Lò Thị L , sinh năm 1993

Nơi cư trú: Bản H , xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên

7. Anh Tẩy Văn N , sinh năm 1993

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Giang

8. Anh Dương Văn Th , sinh năm 1994

Nơi cư trú: Thôn Th, xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang.

( Người liên quan có chị K có mặt, toàn bộ những người liên quan khác vắng

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 01/4/2021, tại quán cà phê “Bốn Mùa” do

Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1969 ở tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bắc Giang làm chủ, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Giang bắt quả tang 05 đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm và thu giữ các vật chứng, tài sản như sau:

- Tại phòng ngủ tầng 1 cạnh bếp ăn: Người bán dâm là La Thị S , sinh

năm 1988, hộ khẩu thường trú: thôn Cò L, xã S , huyện V, tỉnh Yên Bái; người mua dâm khai là Nguyễn Việt H , sinh năm 1995 ở thôn Ch , xã Đ, thành phố B. Thu giữ 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu SLVERFOX, 01 bao cao su đã sử dụng (là dụng cụ mua bán dâm); 01 điện thoại Oppo A9 và 970.000 đồng của Sêm (trong đó có 150.000 đồng là tiền mua bán dâm, còn lại là tài sản của Sêm).

- Tại phòng 203 tầng 2: Người bán dâm là Vì Thị M , sinh năm 1990, hộ

khẩu thường trú: Đội 2, xã Ng, huyện V, tỉnh Yên Bái; người mua dâm là Tẩy Văn N , sinh năm 1993 ở thôn Đ, xã H, huyện C. Thu giữ 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP, 01 bao cao su đã sử dụng (là dụng cụ mua bán dâm); 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max của Niên, 200.000 đồng của Mến (là tài sản của Niên và Mến, không liên quan đến hành vi phạm tội).

- Tại phòng 301 tầng 3: Người bán dâm là Nguyễn Thị H , sinh năm 1996,

hộ khẩu thường trú: thôn Ng, xã L, huyện L, tỉnh Yên Bái; người mua dâm khai là Phạm Khắc Th , sinh năm 1993 ở thôn S , xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thu giữ 02 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP, 02 bao cao su đã sử dụng (là dụng cụ mua bán dâm); 670.000 đồng của H (trong đó có 150.000 đồng là tiền mua bán dâm, còn lại là tài sản của Hường).

- Tại phòng 303 tầng 3: Người bán dâm là Cà Thị H , sinh năm 1998, hộ

khẩu thường trú: bản M 1, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; người mua dâm là Dương Văn Th , sinh năm 1994 ở thôn Th , xã M, huyện C. Thu giữ 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP, 01 bao cao su đã sử dụng (là dụng cụ mua bán dâm); 150.000 đồng của H (là tiền mua bán dâm).

- Tại phòng 304 tầng 3: Người bán dâm là Lò Thị L , sinh năm 1993, hộ

khẩu thường trú: bản H , xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; người mua dâm khai là Phạm Văn C , sinh năm 1990 ở thôn S 1, xã S, thành phố B. Thu giữ 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP, 01 bao cao su đã sử dụng (là dụng cụ mua bán dâm); 150.000 đồng của L (là tiền mua bán dâm).

- Thu trên người của Đặng Tuấn S, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố số 1,

thị trấn K, huyện C, tỉnh Bắc Giang (là người được Ng thuê trông coi quán và thu tiền của khách mua dâm): 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, bị vỡ màn hình và số tiền 20.470.000 đồng. (BL: 64-73)

Hồi 00 giờ 25 phút ngày 02/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Bắc Giang khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ng (tại quán cà phê Bốn Mùa) thu giữ các đồ vật, tài sản sau:

- Tại quầy lễ tân tầng 01: thu giữ 01 hộp bao cao su nhãn hiệu VIP, bên

trong có 48 hộp nhỏ chưa qua sử dụng; 01 quyển sổ bìa màu xanh có chữ “chứng nhận kinh doanh” mang tên Nguyễn Thị Ng.

- Tại phòng khách tầng 01: thu giữ 01 đầu thu Camera màu đen.

- Tại phòng ngủ: thu giữ 01 điện thoại di động OPPO màu trắng; thu trong

két sắt số tiền 25.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Nguyễn Thị Ng mở quán cà phê

“Bốn Mùa” tại nhà ở của mình (ở tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện C, tỉnh Bắc Giang) để thực hiện việc chứa mại dâm, thu lợi bất chính. Trong quán có 08 phòng nghỉ phục vụ cho việc chứa mại dâm. Khoảng tháng 7/2020, Ng thuê S quản lý, trông coi và thu tiền của khách đến mua dâm tại quán, điều gái bán dâm cho khách; Ng trả công cho S 5.000.000 đồng/ tháng. Ng tuyển chọn các nhân viên nữ và nuôi ăn ở tại quán, mỗi lượt bán dâm sẽ thu từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng của khách, Ng thoả thuận ăn chia với gái bán dâm theo tỷ lệ 50:50. Đến thời điểm tháng 4/2021 tại quán của Ng có các nhân viên bán dâm gồm: S , M , H , H , L và 05 nhân viên bán dâm khác.

Khoảng 22 giờ ngày 01/4/2021, Ng, S và các nhân viên bán dâm đang ở

quán thì Th đến đặt vấn đề với Ng về việc mua dâm, Ng và Th thoả thuận giá mua dâm là 300.000 đồng/lần; Ng thu của Thành 300.000 đồng, sau đó Th chọn H , Ng bảo H đi bán dâm cho Th và chia cho H 150.000 đồng; H đưa Th lên phòng 303 ở tầng 3 để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau. Sau đó có N đến quán đặt vấn đề với S để mua dâm, N thoả thuận với S giá mua dâm là 250.000 đồng/lần nhưng khi mua bán dâm xong sẽ trả tiền sau, S đồng ý; N chọn M thì được M đưa lên phòng 203 ở tầng 2 để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau. Cùng khoảng thời gian N vào thì có anh Hoàng Văn Đ , sinh năm 1986 ở thôn C , xã M, huyện C, tỉnh Bắc Giang lái xe taxi chở 03 nam giới tự khai là C, Th i, H đến quán; 04 người vào bàn trong quán ngồi uống nước khoảng 05 phút. Sau đó lần lượt Th , H và C đặt vấn đề với S về việc mua dâm thì được S đồng ý, mỗi người lần lượt trả cho S 300.000 đồng, tổng cộng được 900.000 đồng. Sau đó Th chọn H thì được H đưa lên phòng 301 ở tầng 3 để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau; H chọn S thì được S đưa vào phòng ngủ ở tầng 1 để quan hệ tình dục với nhau; C chọn L thì được L đưa lên phòng 304 tầng 3 để quan hệ tình dục với nhau. Trước khi các nhân viên đưa Th , H g, C vào phòng để quan hệ tình dục thì S đã trả công cho H , S , L mỗi người 150.000 đồng, số tiền 450.000 đồng còn lại thu được của khách mua dâm S đã đưa cho Ng giữ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi các khách mua dâm và gái bán dâm đang quan hệ tình dục với nhau tại các phòng trong quán như nêu ở trên thì bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Giang bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.

Về vâ ̣t chứ ng và tài sản thu giữ:

- Các tài sản của khách mua dâm và gái bán dâm thu giữ khi bắt quả tang,

không liên quan đến hành vi phạm tội như nêu trên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

- Vật chứng chuyển cùng hồ sơ vụ án để giải quyết gồm:

+ Các vỏ bao cao su, bao cao su đã qua sử dụng là công cụ thực hiện hành

vi mua bán dâm; 01 hộp bao cao su nhãn hiệu VIP bên trong có 48 hộp nhỏ Ng chuẩn bị để cho các gái bán dâm sử dụng;

+ 600.000 đồng thu của S , H , H , L là tiền mua bán dâm;

+ 01 quyển sổ có chữ “Chứng nhận kinh doanh” mang tên Nguyễn Thị

Ng; 01 đầu thu Camera; 01 điện thoại di động OPPO màu trắng; số tiền 25.000.000 đồng thu giữ của Ng không liên quan đến việc phạm tội;

+ 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, bị vỡ màn hình và 20. 470.000 đồng

thu giữ của S không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với các nhân viên bán dâm: S , M , H , H , Lan có hành vi bán dâm

tại quán của Ng; Công an huyện Lạng Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với 02 khách mua dâm là N và Th , Công an huyện Lạng Giang đã ra

quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Đối với 03 khách mua dâm tự khai là Phạm Văn C , Phạm Khắc Th i, Nguyễn Việt H , quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh tên tuổi, địa chỉ như các đối tượng khai nhưng không có đối tượng nào như đã khai nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với Hoàng Văn Đ lái xe taxi chở 03 thanh niên khai là C , Th , H

đến quán Bốn Mùa nhưng không biết 03 đối tượng này đến mua bán dâm nên không đề cập xử lý.

Đối với số tiền 600.000 đồng Ng thu lợi bất chính do hành vi chứa mại

dâm, Ng khai để ở túi quần nhưng khi bị bắt quả tang thì phát hiện rơi mất ở đâu không rõ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 100/ CT- VKS ngày 02/11/2021 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 2 điều 327 BLHS.

T¹i phiªn toµ h«m nay các bÞ c¸o khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

mình như cáo trạng đã truy tố vµ tr×nh bµy: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người liên quan chị Kim A trình bày: Chiều ngày 01/04/2021 chị có việc

phải đi ra ngoài cùng với bạn, chị không muốn mang tiền đi nên đã gửi ông S số tiền 20.000.000đồng để ông S giữ hộ, còn số tiền 25.000.000đồng thu trong két sắt của gia đình chị đây là tiền của chị gửi mẹ chị giữ hộ, chị đi làm ở Hà Nội thỉnh thoảng mới về nhà nên không biết mẹ chị có chưa giá mại dâm, về số tiền 45.000.000đồng trên chị xin lại để sử dụng.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân

huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng đối với các bị cáo:

- Bị cáo Ng: Áp dụng c, d khoản 2 , khoản 5 Điều 327; điểm s, t khoản

1Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án

Xử phạt: Nguyễn Thị Ng từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời gian tù

tính từ ngày bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2021 đến ngày 12/10/2021.

Phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng sung quỹ

Nhà nước.

- Bị cáo Đặng Tuấn S: Áp dụng c, d khoản 2 Điều 327;điểm s, t khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án

Xử phạt Đặng Tuấn S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời gian tù

tính từ ngày bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2021 đến ngày 02/11/2021.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm

2015, khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng thu của Sêm, Hường,

Hà, Lan là tiền mua bán dâm .

- Tịch thu tiêu hủy :Các vỏ bao cao su, bao cao su đã qua sử dụng là công

cụ thực hiện hành vi mua bán dâm; 01 hộp bao cao su nhãn hiệu VIP bên trong có 48 hộp nhỏ.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn S 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, bị

vỡ màn hình và 470.000 đồng thu giữ của S không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Ng: 01 quyển sổ có chữ “Chứng nhận kinh doanh”

mang tên Nguyễn Thị Ng; 01 đầu thu Camera; 01 điện thoại di động OPPO màu trắng, nhưng tạm giữ để thi hành án.

- Trả lại chị Nguyễn Thị Kim A số tiền 45.000.000đồng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của

pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn

diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm

sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Nội dung vụ án: Vì muốn thu lợi bất chính nên Nguyễn Thị Ng đã mở

quán cà phê “Bốn Mùa” tại nhà ở của mình (ở tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện Cng, tỉnh Bắc Giang) để thực hiện việc chứa mại dâm; Ng thuê S với giá 5.000.000 đồng/tháng để quản lý, trông coi và thu tiền của khách đến mua dâm tại quán, điều hành gái bán dâm cho khách. Khoảng 22 giờ ngày 01/4/2021, tại quán “Bốn Mùa”, Ng đã dùng nơi ở của mình chứa mại dâm cho 05 người là La Thị S , Vì Thị M , Nguyễn Thị H , Cà Thị H , Lò Thị L bán dâm cho các khách mua dâm lần lượt là Nguyễn Việt H g, Tẩy Văn N , Phạm Khắc Th , Dương Văn Th , Phạm Văn C ; trong đó H , Th , C đi cùng một nhóm, N và Th đi riêng một mình. Quá trình thực hiện chứa mại dâm ngày 01/4/2021, Đặng Tuấn S đã trực tiếp thoả thuận với 04 khách mua dâm là H , Th , C , N và đã thu lần lượt của H , Th , C mỗi người 300.000 đồng còn N thì S thoả thuận cho thanh toán tiền sau khi mua dâm xong; Ng trực tiếp thoả thuận và thu 300.000 đồng tiền mua dâm của H . Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó có đầy đủ cơ sở để kh¼ng ®Þnh Nguyễn Thị Ng, Đặng Tuấn S phạm tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản c, d khoản 2 Điều 327 BLHS năm 2015.Viện Kiểm sát nhân dân huyện L¹ng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Gây ảnh hưởng xấu, tạo dư luận xấu trong nhân dân, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tuyên truyền vận động nhằm ngăn chặn đẩy lùi, hạn chế mức thấp nhất các tệ nạn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguyên nhân phát sinh các bệnh xã hội và tệ nạn xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn,

không có dấu tổ chức, bị cáo Ng có vai chính, bị cáo Ng nhận các cô giái, nuôi ăn, ở cho các cô giái mục đích phục vụ bán dâm, thu lời, bị cáo được hưởng lợi từ việc các cô gái bán dâm, bị cáo S vai trò giúp sức, được bị cáo Ng thuê trông nom quán và giao dịch mua bán dâm với khác khi bị cáo Ng không có nhà.

Về nhân thân: Bị cáo Ng có nhân thân xấu, bị cáo nhiều lần bị xét xử về

tội chứa mại dâm nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục cải tạo, cần phải xử bị cáo bằng pháp luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo S có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào.

[ 4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo kh«ng có tình tiết tăng nặng.

- T×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Quá trình điều tra và tại phiên

tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS; Bị cáo Ng và bị cáo S có thành tích giúp công an tỉnh Tuyên quang phát hiện, tố giác tội phạm, được Công an tỉnh Tuyên Quang xác nhận thành tích lập công nên bị cáo Ng và bị có S được hưởng tình tiết quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo S có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Sau khi xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy bị cáo Ng và bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và bị cáo S có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, căn cứ vào Điều 54 Bộ luật hình sự có thể xét xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, động cơ vụ lợi nên ngoµi h×nh

ph¹t chÝnh cÇn ¸p dông kho¶n 5 §iÒu 327 BLHS Bộ luật Hình sự năm 2015 ph¹t bổ sung bÞ c¸o Ng số tiền 15.000.000đồng sung quü Nhµ nưíc.

Bị cáo S không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản thu nhập nào khác

nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo S.

. Về vật chứng:

- Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng thu của Sêm,

Hường, Hà, Lan là tiền mua bán dâm .

- Tịch thu tiêu hủy :Các vỏ bao cao su, bao cao su đã qua sử dụng là công

cụ thực hiện hành vi mua bán dâm; 01 hộp bao cao su nhãn hiệu VIP bên trong có 48 hộp nhỏ.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn S 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, bị

vỡ màn hình và 470.000 đồng thu giữ của S không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Ng: 01 quyển sổ có chữ “Chứng nhận kinh doanh”

mang tên Nguyễn Thị Ng nhưng kiến nghị UBND huyện Lạng Giang thu hồi do bị cáo kinh doanh không đúng ngành nghề với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 đầu thu Camera; 01 điện thoại di động OPPO màu trắng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án;

- Trả lại chị Nguyễn Thị Kim A số tiền 45.000.000đồng.

. Các nội dung khác Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết:

Đối với các nhân viên bán dâm: S , M , H , Hà, L có hành vi bán dâm tại

quán của Ng; Công an huyện Lạng Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với 02 khách mua dâm là N và Th , Công an huyện Lạng Giang đã ra

quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Đối với 03 khách mua dâm tự khai là Phạm Văn C, Phạm Khắc Th i, Nguyễn Việt H , quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh tên tuổi, địa chỉ như các đối tượng khai nhưng không có đối tượng nào như đã khai nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với Hoàng Văn Đ lái xe taxi chở 03 thanh niên khai là C, Th , H đến

quán Bốn Mùa nhưng không biết 03 đối tượng này đến mua bán dâm nên không đề cập xử lý.

Đối với số tiền 600.000 đồng Ng thu lợi bất chính do hành vi chứa mại

dâm, Ng khai để ở túi quần nhưng khi bị bắt quả tang thì phát hiện rơi mất ở đâu không rõ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

. Các bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ và được quyÒn kh¸ng c¸o bản án theo quy

®Þnh cu¶ ph¸p luËt.

QUYẾT ĐỊNH

[1] .Áp dụng điểm c, d khoản 2,5 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015,

điểm s, t khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 54, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

1.1 Xử phạt : Nguyễn Thị Ng 03 năm tù về tội “ Chứa mại dâm”, thời hạn

tù tính từ ngày bị bắt thi hành án ,nhưng được trừ đi thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2021 đến ngày 12/10/2021.

Phạt bổ sung bằng tiền 15.000.000đồng sung quỹ Nhà nước.

1.2 Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s, t khoản 1, khoản 2

Điều 51; Điều 17 Điều 54; Điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Đặng Tuấn S 2 năm 06 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”

thời gian tù tính từ ngày bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ 02/4/2021 đến ngày 02/11/2021.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo

[2]. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều

106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng của bị cáo Ng .

- Tịch thu tiêu hủy :Các vỏ bao cao su, bao cao su đã qua sử dụng là công

cụ thực hiện hành vi mua bán dâm; 01 hộp bao cao su nhãn hiệu VIP bên trong có 48 hộp nhỏ.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn S 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, bị

vỡ màn hình và 470.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Ng: 01 quyển sổ có chữ “Chứng nhận kinh doanh”

mang tên Nguyễn Thị Ng nhưng kiến nghị UBND huyện Lạng Giang thu hồi do bị cáo kinh doanh không đúng ngành nghề với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 đầu thu Camera; 01 điện thoại di động OPPO màu trắng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án;

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim A số tiền 45.0000.000 đồng.

[ 3]. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều

23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Ng, Đặng Tuấn S phải chịu 200.000đ tiền án phí

HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

[4]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng §iÒu 331; §iÒu 333 Bé luËt tè tông

h×nh sù năm 2015.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng

cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ