vanban.org

Bản án 108/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 22/10/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ các ngày tạm giam từ ngày 09/07/2025 đến ngày 22/10/2025. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/HSST
Ngày: 22/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Thành.

Ông Hoàng Văn Long.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Xuân Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 115/2025/HSST ngày 15/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh T, sinh năm 1964; Nơi đăng ký thường trú: 757 – H14 T, phường H, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; T: Không; Con ông: Nguyễn Minh T1 (đã chết), con bà: Nguyễn Thị H (đã chết). Gia đình có 6 anh em, bị cáo là con thứ tư. Có vợ: Nguyễn Thị H1. Có 02 con sinh năm 1995, 1998. D chỉ bản số 000001527 ngày 15/07/2025, Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H lập. Tiền án, tiền sự: 03 tiền án chưa xóa án tích, 04 tiền án đã xóa án tích và 03 tiền sự (đã hết thời hiệu).

+ Ngày 08/4/2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (bản án 237/HSST) (chưa xóa án tích);

+ Ngày 10/9/2010 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (bản án 435/ST), ra trại ngày 31/8/2017 (chưa xóa án tích);

+ Ngày 27/9/2018 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (bản án 258/2018/HSST), ra trại ngày 04/5/2024 (chưa xóa án tích).

* Nhân thân: 04 tiền án đã xóa án tích và 03 tiền sự đã hết thời hiệu

+ Ngày 10/5/1983, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 90/PTHS);

+ Ngày 01/8/1984, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội Cướp giật tài sản hoặc Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Bản án số 150/HSST);

+ Ngày 09/9/1985, Công an quận B, Hà Nội bắt về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân;

+ Ngày 19/11/1994, Công an huyện T, Hà Nội bắt về hành vi Gây rối trật tự công cộng;

+ Ngày 08/8/1995, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 77);

+ Ngày 26/12/1998, bị Tòa án quận H, Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 48/HSST);

+ Năm 2000, Ủy ban nhân dân thành phố H đưa vào trường G.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/07/2025 đến ngày 22/10/2025, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, tại khu vực đường ven sông T thuộc xã Đ, Hà Nội, tổ công tác thuộc Công an xã Đ, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện Nguyễn Minh T có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện ở lòng bàn tay phải của T có 11 gói nilong bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận 11 gói giấy chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine, 01 túi chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá T đang mang đi bán thì bị phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở để làm việc. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Minh T số tiền 200.000 đồng, T khai là tiền T vừa bán trái phép chất ma túy.

Ngày 09/7/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ được của Nguyễn Minh T. Tại bản kết luận giám định số 3970/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 11 túi nilong đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,676 gam;

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,216 gam; (BL: 15)

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,033 gam trong tổng số 0,676 gam Heroine, sử dụng 0,033 gam trong tổng số 0,216 gam Methamphetamine để làm mẫu giám định, còn lại 0,643 gam Heroine và 0,183 gam Methamphetamine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận: Bản thân T là đối tượng nghiện ma túy nên T có mua ma túy về sử dụng rồi cắt ra một ít để lại cho đối tượng nghiện để lấy tiền xoay vòng mua ma túy. Sáng ngày 09/7/2025, T đã bán được 01 gói ma túy cho một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường bờ sông T thuộc xã Đ, Hà Nội với giá 200.000 đồng. Tiếp đó, T đi bộ dọc khu vực bờ sông T để tìm mua ma túy, tại đây T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 1.500.000 đồng ma túy và được anh ta đưa lại 11 túi nilong bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine và 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau đó, T cầm số ma túy vừa mua được đi dọc đường bờ sông T để ai hỏi mua sẽ bán với giá 200.000 đồng/ 01 gói ma túy Heroine và 300.000 đồng/ 01 gói ma túy đá, nếu bán hết số ma túy trên, T sẽ lời 1.000.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực gần cầu H xã Đ, Hà Nội và chưa kịp bán ma túy cho ai thì bị Cơ quan công an kiểm tra, bắt giữ như trên. Đối với số ma túy T bán vào sáng ngày 09/7/2025, T không nhớ rõ thời gian mua cụ thể và mua ở đâu. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do T không quen biết, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Điều tra đã tiến hành dẫn giải T đi xác định địa điểm mua ma túy và người bán ma túy kết quả không xác định được người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của T, quá trình điều tra xác định là tiền T bán trái phép chất ma túy mà có.

Tại bản cáo trạng: Số 03/CT-VKS–KV11 ngày 15/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội truy tố Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt vì bị cáo bị bệnh ung thư dạ dày giai đoạn cuối, suy kiệt nặng, nhiễm khuẩn huyết, viêm gan C, nguy cơ tử vong cao.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q, khoản 2 Điều 251 – Bộ luật hình sự .

Đề nghị HĐXX xử phạt Nguyễn Minh T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo không có việc làm ổn định, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Tòa tịch thu tiêu hủy 0,643 gam Heroine và 0,183 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.

Đối với số tiền 200.000đồng thu giữ của bị cáo T là tiền do phạm tội mà có, đề nghị hội đồng xét xử cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, tại khu vực đường ven sông T thuộc xã Đ, TP Hà Nội, Nguyễn Minh T cất giấu 0,676 gam ma túy loại Heroine và 0,216 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã Đ, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. Quá trình điều tra còn xác định, sáng ngày 09/7/2025, T có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng cho đối tượng nghiện không quen biết. Đối chiếu quy định pháp luật Nguyễn Minh T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Minh T có 03 tiền án (chưa xóa án tích) và 04 tiền án (chưa xóa án tích) 03 tiền sự đã hết thời hiệu. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, nghiện ma túy, bản thân đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không tiến bộ. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có việc làm thu nhập ổn định và áp dụng hình phạt tù, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số tiền 200.000đồng là tiền thu giữ của bị cáo T do phạm tội mà có. Do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với các vật chứng sau đây là chất độc hại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy: 0,643 gam Heroine và 0,183 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ Luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ các ngày tạm giam từ ngày 09/07/2025 đến ngày 22/10/2025.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 Phong bì dán kín tại các mép dán có chữ ký của Nguyễn Minh T, Trần Ngọc C, Phạm Công N, bên trong có 0,643 gam Heroine và 0,183 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.

(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Hà Nội).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đồng (Số TK: 8642888888 của Kho bạc nhà nước khu vực A – phòng G1).

Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Điều 20, 22, 26 Nghị Quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ