vanban.org

Bản án 108/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 25/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Trung S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Trung S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 108/2025/HS-ST
Ngày 25-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Huy

Ông Nguyễn Đình Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Cao Đức Lộc - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2025/TLST-HS ngày 16/9/2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HS ngày 16/9/2025, đối với bị cáo:

Lê Trung S - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1992; nơi sinh: Hà Nội; HKTT: Phố L, quận H (nay là phường H), thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông: Lê Văn S và con bà: Trần Kim M; vợ: Hà Thanh T, có 01 con sinh năm 2012; TATS: Theo danh chỉ bản số 1724 ngày 25/7/2025 tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội và lý lịch bị can thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 19/7/2025 đến ngày 25/7/2025 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 19/7/2025, S điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave RSX màu trắng BKS: 30K9-6254 ra bến xe G tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ni lông chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, S sử dụng mạng xã hội Messenger nhắn tin, gọi điện với một người phụ nữ sử dụng tài khoản facebook có tên “Anz Dunz” đến phố T, phường L, Hà Nội để cùng đi sử dụng ma tuý đá. Khi S đi đến trước địa chỉ nhà số 73 phố T, phường L thì bị Cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 4268/KL-KTHS ngày 29/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,458 gam.

Tại bản cáo trạng số: 88/CT-VKSGL ngày 15/9/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Trung S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

a. Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2025.

- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

b. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề xuất:

+ Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ số ma túy đã thu giữ sau khi trích mẫu giám định;

+ Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 11 Pro5G, màu xanh do liên quan đến hành vi phạm tội.

c. Về trách nhiệm dân sự: Không.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về tội danh:

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, bản Kết luận định giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 25 phút ngày 19/7/2025, tại phố T thuộc phường L, Hà Nội, bị cáo Lê Trung S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý Methamphetamine có khối lượng là 0,458 gam, mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

. Hành vi của bị cáo Lê Trung S đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

. Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về việc áp dụng hình phạt:

. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt. Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên.

. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

- Về hình phạt bổ sung:

. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

- Về xử lý vật chứng:

. Thu giữ của bị cáo 01 túi ni lông kích thước 2cm x 3cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,432 gam (đã thu mẫu 0,026gam) là ma túy bị cáo mua để sử dụng nên cần cho tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

. Thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 11 Pro5G, màu xanh đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần cho tịch thu sung công quỹ nhà nước là có căn cứ.

- Về các vấn đề khác:

. Đối với đối tượng bán ma túy cho S và đối tượng S rủ đi cùng sử dụng ma túy do không xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda RSX màu trắng BKS: 30K9-6254, số khung RLHJC4329AY078778; số máy JC43E5532290 thu giữ của S. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Trọng N, địa chỉ: Đường N, phường P, Hà Nội. Đầu tháng 6/2025, S mượn xe của N để sử dụng, anh N không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của S. Ngày 12/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra trao trả lại chiếc xe trên cho anh N là đúng quy định của pháp luật.

. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và về các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

- Về án phí:

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự vàNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo:

. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Trung S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/7/2025.

2. Về hình phạt bổ sung: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 túi ni lông kích thước 2cm x 3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,432 gam (đã thu mẫu 0,026gam);

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 11 Pro5G, màu xanh đã qua sử dụng.

(Hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2025).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Trung S phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ