vanban.org

Bản án 108/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng Tuyên án 27/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đức H; Trần Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức H 05 (lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp 12 tháng tù của bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả (nay là Toà án nhân dân Khu vực 3 – tỉnh Quảng Ninh), tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huấn - Hiệp - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức H; Trần Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Luật Tư pháp người; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:108/2025/HS-ST
Ngày 27-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Khương

Bà Nguyễn Thị Minh Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Đức H, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2007 tại Hải Phòng (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, H 17 tuổi 09 tháng 01 ngày). Nơi cư trú: tổ 12, phường Đ, quận H, nay là phường H, thành phố Hải Phòng; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công H và bà Cao Thị T; chưa có vợ con; tiền án: Tại bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng (ngày phạm tội: 16/10/2023; thời điểm phạm tội 16 năm 04 tháng 24 ngày tuổi; đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/6/2024); Tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 17/4/2025, đến ngày 23/4/2025 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Trần Văn H, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2000 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Nơi cư trú: Số 8 lô 41 D, phường H, thành phố H; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Hvà bà Bùi Thị T chưa có vợ con; tiền án; Tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 15/8/2025, đến ngày 21/8/2025 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức H: Ông Phạm Duy Khoa – Trợ giúp viên pháp lý Trung trợ giúp pháp lý thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/4/2025, tại khu vực trước cửa nhà số 286 Đà Nẵng, phường Vạn Mỹ, Quận Ngô Quyền, nay là Phường Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Công an phường Vạn Mỹ bắt quả tang Lê Đức H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái H đang mặc 01 lọ nhựa nắp đen hình trụ đường kính khoảng 01 cm, 01 lọ nhựa nắp đen hình trụ đường kính khoảng 1,5 cm bên trong chứa chất lỏng không màu, nghi là ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh (bút lục 89-90).

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đức H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định số 249/KL-KTHS ngày 21/4/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “chất lỏng không màu thu giữ của Lê Đức H gửi giám định có thể tích: 10,0 ml, tìm thấy chất ma túy, loại: MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA”.

Tại bản kết luận giám định số 3924/KL-KTHS ngày 26/5/2025 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

“- Nồng độ chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong 6 ml mẫu gửi giám định là 0,20 mg/ml.

- Không xác định được nồng độ chất ma túy MDMB-BUTINACA do hiện tại Viện Khoa học hình sự chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-BUTINACA”.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức H khai: Khoảng tháng 02/2025, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên H nảy sinh ý định mua tinh dầu ma túy loại CBD để bán kiếm lời. H đã bán ma túy cho một số người nhưng chỉ nhớ đã 02 lần bán ma túy cho Trịnh Bá Hải (sinh năm 1997, nơi cư trú: số 38/5 Mạc Quyết, phường Dương Kinh, thành phố Hải Phòng) và ngày 17/4/2025 đang mang ma túy đi bán cho người mua thì bị Công an bắt quả tang. Cụ thể như sau: ngày 23/02/2025, H đã bán cho Trịnh Bá Hải 01 lọ nhựa chứa 05 ml tinh dầu ma tuý loại CBD với giá 350.000 đồng và nhận tiền bằng hình thức Hải chuyển khoản đến tài khoản số 0333046346 tại Ngân hàng VP Bank của H. Đến ngày 03/4/2025, H tiếp tục bán cho Hải 01 lọ nhựa chứa 05 ml tinh dầu ma túy loại CBD với giá 250.000 đồng và Hải đã thanh toán cho H bằng tiền mặt. Nguồn gốc số ma túy mà H bán cho Hải là do H mua của những người không quen biết trên mạng xã hội. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17/4/2025, tài khoản Zalo "Lộc Tiến" nhắn tin đến tài khoản Zalo “Lê Đức H” của H hỏi mua 10 ml tinh dầu ma túy loại CBD, H đồng ý. Sau đó, H liên lạc với tài khoản Zalo “Loco” của Trần Văn H hỏi mua 10 ml tinh dầu ma túy CBD, được báo giá 400.000 đồng tiền ma túy và phí giao hàng 50.000 đồng. H chuyển trước 50.000 đồng từ tài khoản số 0333046346 tại Ngân hàng VP Bank của H đến số tài khoản 0362622513 tại Ngân hàng VP Bank của H. Sau khi nhận được tiền, H mang ma túy đến khu vực chợ Lũng, phường Hải An, thành phố Hải Phòng bán cho H. Tại đây, H đã trả nốt 400.000 đồng tiền mặt cho H. Khi mua được ma túy, H liên lạc với Zalo “Lộc Tiến” báo giá là 500.000 đồng và cả hai hẹn nhau đến khu vực Đ, phường Hải An, thành phố Hải Phòng để mua bán ma túy. Khi H đang mang ma túy đến khu vực trước cửa nhà số 286 đường Đà Nẵng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngày 15/8/2025, Trần Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đầu thú và giao nộp: 04 lọ nhựa nắp đậy (01 lọ nhựa nắp đậy màu cam, 03 lọ nhựa nắp đậy màu trắng) bên trong mỗi lọ có chứa chất lỏng màu vàng (mẫu M1); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu đen bên trong chứa chất lỏng không màu (mẫu M2); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu trắng bên trong chứa chất lỏng màu cam (mẫu M3); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu đen bên trong chứa chất lỏng màu xanh (mẫu M4); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu trắng bên trong chứa chất lỏng không màu (mẫu M5); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu đen bên trong chứa chất lỏng màu cam nhạt (mẫu M6); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu đen bên trong chứa chất lỏng màu vàng (mẫu M7); 01 lọ nhựa có nắp đậy màu trắng bên trong chứa chất lỏng màu xanh đậm (mẫu M8).

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định số 775/KL-KTHS ngày 25/8/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

“5.1. Chất lỏng màu vàng của mẫu M1 gửi giám định có thể tích: 18,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.2. Chất lỏng không màu của mẫu M2 gửi giám định có thể tích: 5,5 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.3. Chất lỏng màu cam của mẫu M3 gửi giám định có thể tích: 90,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.4. Chất lỏng màu xanh của mẫu M4 gửi giám định có thể tích: 65,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.5. Chất lỏng không màu của mẫu M5 gửi giám định có thể tích: 50,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.6. Chất lỏng màu cam nhạt của mẫu M6 gửi giám định có thể tích: 42,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.7. Chất lỏng màu vàng của mẫu M7 gửi giám định có thể tích: 180,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất.

5.8. Chất lỏng màu xanh đậm của mẫu M8 gửi giám định có thể tích: 8,0 ml, không tìm thấy chất ma túy và tiền chất”.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn H khai phù hợp với Lê Đức H về việc hồi 11 giờ 00 phút ngày 17/4/2025 đã bán 10 ml tinh dầu ma túy loại CBD cho H với giá 450.000 đồng. Ngoài ra, H còn khai: do không có việc làm ổn định nên từ khoảng đầu tháng 4/2025, H nảy sinh ý định mua tinh dầu ma túy loại CBD của những người không quen biết trên mạng xã hội để bán lại kiếm lời. Ngày 17/4/2025, H mua 08 ml tinh dầu ma túy loại CBD với giá 280.000 đồng và pha thêm 02 ml tinh dầu thường để bán cho H. Chất lỏng trong các lọ nhựa mà H giao nộp là tinh dầu thường, không phải ma túy.

Trịnh Bá Hải khai phù hợp với Lê Đức H về việc ngày 23/02/2025 đã mua 05 ml tinh dầu ma túy loại CBD của H với giá 350.000 đồng và ngày 03/4/2025 mua 05 ml tinh dầu ma túy loại CBD của H với giá 250.000 đồng.

Kết quả kiểm tra chi tiết, giám định dữ liệu điện thoại thu giữ của Lê Đức H, Trịnh Bá Hải thể hiện các cuộc gọi, nội dung tin nhắn liên quan đến việc trao đổi, liên lạc để mua bán ma túy và kết quả sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện giao dịch chuyển khoản liên quan đến hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - thành phố Hải Phòng quản lý:

- 01 phong bì niêm phong số 3924/KL-KTHS bên trong có 01 ống nhựa chứa 5,0 ml chất lỏng, 02 vỏ lọ nhựa và vỏ bao gói còn lại sau giám định.

- 01 bì giấy niêm phong số 775MT/PC09 bên trong có 8,5 ml chất lỏng cùng vỏ bao gói của mẫu M1; 1,5 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M2; 60,0 ml chất lỏng màu cam cùng vỏ bao gói của mẫu M3; 40,0 ml chất lỏng màu xanh cùng vỏ bao gói của mẫu M4; 30,0 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M5; 27,0 ml chất lỏng màu cam nhạt cùng vỏ bao gói của mẫu M6; 120,0 ml chất lỏng màu vàng cùng vỏ bao gói của mẫu M7; 4,0 ml chất lỏng màu xanh đậm cùng vỏ bao gói của mẫu M8 còn lại sau giám định.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh thu giữ của Lê Đức H.

Tại Bản Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 08/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lê Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H, Trần Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm trở về với xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Lê Đức H mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của bản án số 36 ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 3- tỉnh Quảng Ninh). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề ngH và thu nhập nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

-Về xử lý vật chứng của vụ án:

+Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 3924/KL-KTHS bên trong có 01 ống nhựa chứa 5,0 ml chất lỏng, 02 vỏ lọ nhựa và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong số 775MT/PC09 bên trong có 8,5 ml chất lỏng cùng vỏ bao gói của mẫu M1; 1,5 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M2; 60,0 ml chất lỏng màu cam cùng vỏ bao gói của mẫu M3; 40,0 ml chất lỏng màu xanh cùng vỏ bao gói của mẫu M4; 30,0 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M5; 27,0 ml chất lỏng màu cam nhạt cùng vỏ bao gói của mẫu M6; 120,0 ml chất lỏng màu vàng cùng vỏ bao gói của mẫu M7; 4,0 ml chất lỏng màu xanh đậm cùng vỏ bao gói của mẫu M8 còn lại sau giám định.

+ Sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh thu giữ của Lê Đức H.

+ Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp lại 450.000 đồng tiền bán ma tuý; Lê Đức H phải nộp lại 600.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lê Đức H đồng ý với quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo tại thời điểm phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 09 tháng 01 ngày tuổi nên cũng cần cân nhắc xem xét nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại

khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 23/02/2025 đến ngày 17/4/2025, Lê Đức H đã 03 lần bán trái phép ma túy để kiếm lời, trong đó: ngày 23/02/2025 bán 05 ml tinh dầu ma túy loại CBD với giá 350.000 đồng cho Trịnh Bá Hải; ngày 03/4/2025 bán 05 ml tinh dầu ma túy loại CBD với giá 250.000 đồng cho Trịnh Bá Hải; ngày 17/4/2025, H đang cất giữ trái phép 10 ml tinh dầu ma túy loại CBD để bán cho người sử dụng Zalo “Lộc Tiến” với giá 500.000 đồng thì bị bắt quả tang. Khoảng 11 giờ ngày 17/4/2025, Trần Văn H đã bán 10 ml tinh dầu ma túy loại CBD với giá 450.000 đồng cho Lê Đức H.

Theo kết luận giám định“- Nồng độ chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong 6 ml mẫu gửi giám định là 0,20 mg/ml; chất ma túy MDMB-BUTINACA không xác định được nồng độ do hiện tại Viện Khoa học hình sự chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-BUTINACA”

Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Đức H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Trần Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đối với bị cáo Lê Đức H, Trần Văn H về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe của cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt các bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

- Về tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

- Về vai trò, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo Trần Văn H chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo Lê Đức H khi thực hiện tội phạm 17 năm 09 tháng 01 ngày tuổi và tại 01 tiền án: Tại bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng (ngày phạm tội: 16/10/2023; thời điểm phạm tội 16 năm 04 tháng 24 ngày tuổi (được coi là không có án tích) nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo H lại thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian thử thách của bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/4/2024, vì vậy hình phạt của bản án cho hưởng án treo chuyển thành án giam nhưng Hội đồng xét xử xem xét áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên khi quyết định hình phạt.

Về Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo H, H khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; sau khi bị cáo H bị phát hiện về hành vi bán ma tuý, bị cáo H đã tự thú khai báo hành vi bị cáo phạm tội trước đó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 bộ Luật hình sự; bị cáo Trần Văn H đã ra đầu thú và bị cáo có ông bà nội được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ; bị cáo H có ông nội là liệt sĩ nên các bị cáo H, H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có nghề ngH, thu nhập nên không buộc các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 3924/KL-KTHS bên trong có 01 ống nhựa chứa 5,0 ml chất lỏng, 02 vỏ lọ nhựa và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong số 775MT/PC09 bên trong có 8,5 ml chất lỏng cùng vỏ bao gói của mẫu M1; 1,5 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M2; 60,0 ml chất lỏng màu cam cùng vỏ bao gói của mẫu M3; 40,0 ml chất lỏng màu xanh cùng vỏ bao gói của mẫu M4; 30,0 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M5; 27,0 ml chất lỏng màu cam nhạt cùng vỏ bao gói của mẫu M6; 120,0 ml chất lỏng màu vàng cùng vỏ bao gói của mẫu M7; 4,0 ml chất lỏng màu xanh đậm cùng vỏ bao gói của mẫu M8 còn lại sau giám định.

Sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh thu giữ của Lê Đức H.

Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp lại 450.000 đồng tiền bán ma tuý; Lê Đức H phải nộp lại 600.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với những người sử dụng tài khoản mạng xã hội bán tinh dầu ma tuý loại CBD cho Trần Văn H, Lê Đức H và người sử dụng Zalo “Lộc Tiến” hỏi mua tinh dầu ma túy loại CBD của H, quá trình điều tra chưa xác được căn cước, lý lịch nên chưa có căn cứ xử lý. Đối với Trịnh Bá Hải có hành vi mua tinh dầu ma túy loại CBD của Lê Đức H với mục đích để sử dụng. Tuy nhiên, Hải khai sử dụng hết số ma túy đã mua. Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Hải âm tính với các chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lê Đức H; Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn H.

- Tuyên bố bị cáo Lê Đức H; Trần Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Lê Đức H 05 (lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp 12 tháng tù của bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả (nay là Toà án nhân dân Khu vực 3 – tỉnh Quảng Ninh), tỉnh Quảng Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2025.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 3924/KL-KTHS bên trong có 01 ống nhựa chứa 5,0 ml chất lỏng, 02 vỏ lọ nhựa và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì giấy niêm phong số 775MT/PC09 bên trong có 8,5 ml chất lỏng cùng vỏ bao gói của mẫu M1; 1,5 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M2; 60,0 ml chất lỏng màu cam cùng vỏ bao gói của mẫu M3; 40,0 ml chất lỏng màu xanh cùng vỏ bao gói của mẫu M4; 30,0 ml chất lỏng không màu cùng vỏ bao gói của mẫu M5; 27,0 ml chất lỏng màu cam nhạt cùng vỏ bao gói của mẫu M6; 120,0 ml chất lỏng màu vàng cùng vỏ bao gói của mẫu M7; 4,0 ml chất lỏng màu xanh đậm cùng vỏ bao gói của mẫu M8 còn lại sau giám định (Niêm phong dán kín sau giám định).

+ Sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng đựng trong phong bì niêm phong dán kín sau giám định số L1-1506 2025 thu giữ của Lê Đức H.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng 08/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 – Hải Phòng).

+ Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp lại 450.000 đồng tiền bán ma tuý; Lê Đức H phải nộp lại 600.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Lê Đức H, Trần Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Lê Đức H, Trần Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ