vanban.org

Bản án 108/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng N1 dư nợ tính đến ngày 25/9/2025 tổng cộng là 304.667.671đ (ba trăm lẻ bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) trong đó tiền nợ gốc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/DS-ST
Ngày: 25 – 9 – 2025
“V/v Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

2. Ông Thái Trung Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 208/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 173/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng N1.

Địa chỉ: Số nhà B đường L, phường G, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1984 (văn bản ủy quyền ngày 23/9/2025) (có mặt).

Địa chỉ: Số nhà D đường N, Khóm A, phường V, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: Ông Cao Hoàng V, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, phường V, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Ngọc Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, phường V, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/5/2025 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền bà Huỳnh Ngoc T1 trình bày:

Ngày 06/4/2020, Ngân hàng N1 – Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Cao Hoàng V đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000434. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông Cao Hoàng V vay số tiền 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm; lãi suất 12%/năm; thời hạn vay là 60 tháng; trả nợ gốc, lãi theo từng giấy nhận nợ.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Cao Hoàng V ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VT/2016052/HĐTC ngày 20/7/2016, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 802815 phần đất có diện tích là 9.210m2 tại thửa đất số 191 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); do hộ ông Cao Hoàng V đứng tên.

Tính đến ngày 25/9/2025, ông Cao Hoàng V còn nợ của Ngân hàng T3 là 304.667.671đ (ba trăm lẻ bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) trong đó tiền nợ gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 114.746.301đ (một trăm mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng), lãi quá hạn là 9.921.370đ (chín triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng).

Nay, Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Cao Hoàng V và vợ là bà Phạm Thị Ngọc Đ phải liên đới thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, ông V – bà Đ còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng từ ngày 26/9/2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

T2 họp ông V – bà Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.

Bị đơn ông Cao Hoàng V trình bày: Ông Vũ thừa N vào năm 2020, ông V có vay của Ngân hàng số tiền 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm, phát triển kinh tế gia đình; lãi suất 12%/năm; thời hạn vay là 60 tháng; trả nợ gốc, lãi theo từng giấy nhận nợ.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Cao Hoàng V và vợ là bà Phạm Thị Ngọc Đ đã ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VT/2016052/HĐTC ngày 20/7/2016, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 802815 phần đất có diện tích là 9.210m2 tại thửa đất số 191 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); do hộ ông Cao Hoàng V đứng tên.

Tính đến ngày 25/9/2025, ông Cao Hoàng V còn nợ của Ngân hàng T3 là 304.667.671đ (ba trăm lẻ bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) trong đó tiền nợ gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 114.746.301đ (một trăm mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng), lãi quá hạn là 9.921.370đ (chín triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng) đúng như Ngân hàng trình bày.

Do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng ông V không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, nay ông V xin Ngân hàng gia hạn cho vợ chồng ông thời gian trả nợ. Nếu không trả được nợ ông V và gia đình đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản để thu hồi nợ.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng bà Phạm Thị Ngọc Đ không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự nhưng bà Phạm Thị Ngọc Đ cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 12/9/2025, bà Phạm Thị Ngọc Đ vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 25/9/2025 tổng cộng là 304.667.671đ (ba trăm lẻ bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) trong đó tiền nợ gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 114.746.301đ (một trăm mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng), lãi quá hạn là 9.921.370đ (chín triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Đồng thời, ông V và bà Đ còn phải tiếp tục liên đới trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 26/9/2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp ông V và bà Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn Cao Hoàng V cư trú tại ấp T, phường V, thành phố Cần Thơ. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt ông Cao Hoàng V và bà Phạm Thị Ngọc Đ.

Về nội dung giải quyết:

Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000434 ngày 06/4/2020. Ông V đã nhận đủ số tiền vay là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm. Nội dung của hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000434 ngày 06/4/2020 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và ông V đã nhận đủ tiền vay là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng). Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, ông V đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000434 ngày 06/4/2020 có lãi suất thỏa thuận là 12%/năm. Đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ liên đới trả tiền các khoản nợ trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm theo lời trình bày của ông V thì việc vay nợ của ông V mục đích nuôi tôm, cùng phát triển kinh tế gia đình, mục đích là tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu kinh tế chung của gia đình. Ông V và bà Đ là vợ chồng, cùng lao động, cùng sinh hoạt trong gia đình và cùng lấy tài sản chung để đảm bảo cho khoản nợ vay. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông V và bà Đ cùng liên đới trả các khoản nợ vốn và lãi cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày 26/9/2025, vợ chồng ông V – bà Đ còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Cao Hoàng V và bà Phạm Thị Ngọc Đ đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VT/2016052/HĐTC ngày 20/7/2016, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 802815 phần đất có diện tích là 9.210m2 tại thửa đất số 191 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); do hộ ông Cao Hoàng V đứng tên; có vị trí tứ cận như sau:

+ Hướng Đông giáp thửa 184.

+ Hướng Tây giáp thửa 183 và 205.

+ Hướng Nam giáp Kênh.

+ Hướng Bắc giáp thửa 171.

Đất có ao nuôi tôm bỏ hoang hiện không nuôi tôm.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản thì ông V và bà Đ tự nguyện, trực tiếp ký kết với Ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông V thừa nhận phần đất này của vợ chồng ông V hiện nay do vợ chồng ông V đang quản lý sử dụng. Đồng thời, ông V đồng ý cho Ngân hàng được đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án nếu vợ chồng ông không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận định: Khi ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản, đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp do hai bên ký kết có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp vợ chồng ông V vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó, trường hợp vợ chồng ông V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp thì bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, ông V và bà Đ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000đ (một triệu đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên ông V và bà Đ phải trả lại cho nguyên đơn số tiền nêu trên là 1.000.000đ (một triệu đồng).

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, ông V và bà Đ phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 295, 303, 325, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

2. Buộc bị đơn ông Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng N1 dư nợ tính đến ngày 25/9/2025 tổng cộng là 304.667.671đ (ba trăm lẻ bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng) trong đó tiền nợ gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 114.746.301đ (một trăm mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng), lãi quá hạn là 9.921.370đ (chín triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng).

Đồng thời ông V và bà Đ còn phải liên đới trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 26/9/2025 cho đến khi trả xong số nợ gốc.

3. Trường hợp ông Cao Hoàng V và bà Phạm Thị Ngọc Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N1 và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bị đơn Cao Hoàng V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc Đ phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VT/2016052/HĐTC ngày 20/7/2016, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 802815 phần đất có diện tích là 9.210m2 tại thửa đất số 191 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); do hộ ông Cao Hoàng V đứng tên; có vị trí tứ cận như sau:

+ Hướng Đông giáp thửa 184.

+ Hướng Tây giáp thửa 183 và 205.

+ Hướng Nam giáp Kênh.

+ Hướng Bắc giáp thửa 171.

Đất có ao nuôi tôm bỏ hoang hiện không nuôi tôm.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Cao Hoàng V và bà Phạm Thị Ngọc Đ liên đới chịu là 1.000.000đ (một triệu đồng), số tiền này nguyên đơn Ngân hàng N1 đã nộp xong, ông Cao Hoàng V và bà Phạm Thị Ngọc Đ có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn 1.000.000đ (một triệu đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Hoàng V và bà Phạm Thị Ngọc Đ phải liên đới chịu là 15.233.383đ (mười lăm triệu hai trăm ba mươi ba nghìn ba trăm tám mươi ba đồng).

Ngân hàng N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.348.000đ (bảy triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002143 ngày 10/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cần Thơ).

6. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ