- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2024/HSST Ngày: 26- 12 -2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Thị Hồng Liên
Ông K’ Tré.
Thư ký phiên tòa: Ông Trƣơng Quang Vũ – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 02/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/HSST-QĐ ngày 12/12/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nghiêm Văn Đ; Sinh năm: 1970 tại tỉnh Hà Tĩnh.
Nơi thường trú và chỗ ở: 75/100 Trần Tế Xương, thôn 4, xã Đambri, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Nghiêm Văn N, sinh năm 1922 (đã chết); con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1925 (đã chết).
Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1972; hiện trú tại thôn 4, xã Đambri, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có 03 người con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 361/HSST ngày 25/12/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 18 tháng tù về tội “Giết người”.
Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 08/7/2024, đến ngày 15/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
( Bị cáo có mặt ).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1972
Địa chỉ: thôn 4, xã Đam Bri, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).
2. Anh Nguyễn Hoàng K, sinh năm: 1992
Địa chỉ: 376/3 Chu Văn An, phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
( V ng mặt ).
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn R, sinh năm: 1981
Địa chỉ: thôn 5, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng ( V ng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào 17 giờ 30 phút ngày 08/7/2024, Công an huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng tiến hành tuần tra kiểm soát giao thông trên địa bàn xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng phát hiện 02 đối tượng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49K1-20996 có biểu hiện nghi vấn nên đã dừng xe để tiến hành kiểm tra, làm việc. Qua kiểm tra người của Nghiêm Văn Đ phát hiện bên trong túi áo bên trái, phía trước áo thun Đ đang mặc có 01 gói ny lon màu tr ng, viền đỏ, kích thước 07cm x 10cm, bên trong chứa 06 gói giấy bạc, bên trong các gói giấy bạc chứa chất bột màu tr ng dạng cục. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nghiêm Văn Đ tại số 75/100 Trần Tế Xương, xã Đambri, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng phát hiện tại ngăn tủ thứ nhất của đầu giường phòng ngủ thứ hai có 01 hộp giấy điện thoại Iphone kích thước 9,5cm x 18cm, bên trong có 21 cục giấy bạc nhỏ, kích thước 01cm x 01cm và 01 cục giấy bạc lớn kích thước 04cm x 3,5cm, bên trong các cục giấy bạc này chứa chất bột màu tr ng dạng cục và dưới gầm giường phát hiện số tiền 3.410.000 đồng; trên nóc tủ phòng ngủ thứ nhất có 01 điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu hồng, số Imei 1: 868499030482470; số Imei 2: 868499030482462 g n sim số 0969540729. Đ thừa nhận chất bột màu tr ng dạng cục trong các gói ny lon và gói giấy bạc trên là ma túy của Đ mua về để sử dụng. Cơ quan công an đã tiến hành thu giữ, niêm phong và trưng cầu giám định chất nghi ma túy.
Tại Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
+ Mẫu cục bột (M1) đựng trong 06 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9529g (không phẩy chín năm hai chín gam), loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine.
+ Mẫu tinh thể (M2) đựng trong 22 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,3214g (bảy phẩy ba hai một bốn), loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine.
Diacetylmorphine là chất ma túy được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Quá trình điều tra xác định Nghiêm Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên trưa ngày 07/7/2024, Nghiêm Văn Đ đến khu vực đường tránh thuộc xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng gặp và mua của một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 10.000.000 đồng. Đ đem gói ma túy trên về nhà tại thôn 4, xã Đambri, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng phân thành 30 gói nhỏ và 01 gói lớn rồi cho vào hộp giấy (loại hộp điện thoại Iphone) cất giấu tại đầu giường trong phòng ngủ thứ 2 của nhà Đ. Trong chiều ngày 07/7/2024 và sáng ngày 08/7/2024, Đ đã sử dụng hết 03 gói ma túy nhỏ. Đến khoảng 16 giờ ngày 08/7/2024, Đ lấy 06 gói ma túy nhỏ cho vào 01 túi ny lon màu tr ng rồi cất vào túi áo thun Đ đang mặc và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49K1-20996 đến nhà Nguyễn Hoàng K rủ K tìm nơi v ng người để cùng nhau sử dụng ma túy thì K đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe chở K đi đến khu vực cổng văn hóa thôn 7, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng thì bị b t quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo tR.
Cáo tR số 120/CT-VKSBL ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nghiêm Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn Đ từ 06 đến 07 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 phong bì đựng mẫu còn lại sau giám định (M1: 0,7997 gam và M2: 6,9404 gam).
Trả lại cho bị cáo Nghiêm Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu hồng, số Imei 1: 868499030482470; số Imei 2: 868499030482462 bên trong g n sim số 0899302648 và sim số 0969540729 nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc Thi hành án.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 3.410.000 ( Ba triệu bốn trăm mười ngàn ) đồng.
Chuyển Công an huyện Bảo L xử lý theo thẩm quyền: 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 49K1-20996.
-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Bảo L; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Bị cáo Nghiêm Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy. Vào ngày 08/7/2024, tại thôn 7, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng bị cáo Đ bị lực lượng Công an huyện Bảo L b t quả tang đang tàng trữ 06 gói ma túy. Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Đ tại thôn 4, xã Đambri, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng cơ quan Công an còn thu giữ 22 gói ma túy.
Tại Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
+ Mẫu cục bột (M1) đựng trong 06 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9529g (không phẩy chín năm hai chín gam), loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine.
+ Mẫu tinh thể (M2) đựng trong 22 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,3214g (bảy phẩy ba hai một bốn), loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine.
Hành vi trên của bị cáo Nghiên Văn Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo tR của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không tìm cách cai nghiện, trái lại lén lút mua ma túy cất giấu để sử dụng. Hành vi trên gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tại bản án số 361/HSST ngày 25/12/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Đ 18 tháng tù về tội “Giết người”, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Tăng Văn Lành 1.500.000 đồng và bị cáo phải nộp 50.000 đồng án phí HSST.
Ngày 10/8/1996 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo đã nộp 50.000 đồng án phí HSST vào tháng 6/1997.
Tại công số 3877/CTHADS-VP ngày 16/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai trả lời kết quả Thi hành án dân sự theo bản án số 361/HSST ngày 25/12/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai: Đến nay Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai chưa nhận được yêu cầu Thi hành án của đương sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo trình bày đã bồi thường cho ông Tăng Văn Lành 1.500.000 đồng, kết quả xác minh thì ông Tăng Văn Lành đã chết.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 phong bì đựng mẫu còn lại sau giám định (M1: 0,7997 gam và M2: 6,9404 gam).
Trả lại cho bị cáo Nghiêm Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu hồng, số Imei 1: 868499030482470; số Imei 2: 868499030482462 bên trong g n sim số 0899302648 và sim số 0969540729 nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc Thi hành án.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 3.410.000 ( Ba triệu bốn trăm mười ngàn ) đồng.
Chuyển Công an huyện Bảo L xử lý theo thẩm quyền: 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 49K1-20996.
Các vấn đề khác: Trong vụ án, đối tượng bán ma túy cho bị cáo Đ có dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, do việc mua bán trái phép chất ma túy xảy ra trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng thông tin về tội phạm trên để điều tra, xác minh theo thẩm quyền.
Đối với Nguyễn Hoàng K, sinh năm: 1992, HKTT: 376/3 Chu Văn An, phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là người được bị cáo Đ rủ đi sử dụng ma túy cùng. Tuy nhiên K không góp tiền hay lợi ích gì để có ma túy sử dụng, cũng không biết Đ tàng trữ bao nhiêu ma túy. Do đó, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoàng K.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn ma túy hiện nay.
Về án phí: Bị cáo Nghiêm Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn Đ 06 ( Sáu ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 phong bì đựng mẫu còn lại sau giám định (M1: 0,7997 gam và M2: 6,9404 gam).
Trả lại cho bị cáo Nghiêm Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A71 màu hồng, số Imei 1: 868499030482470; số Imei 2: 868499030482462 bên trong g n sim số 0899302648 và sim số 0969540729 nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc Thi hành án.
Chuyển Công an huyện Bảo L xử lý theo thẩm quyền: 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 49K1-20996.
( Các vật chứng trên theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 09/12/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L với Công an huyện Bảo L ).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 3.410.000 ( Ba triệu bốn trăm mười ngàn ) đồng tại giấy uỷ nhiệm chi ngày 13/12/2024 của Kho bạc nhà nước huyện Bảo L.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nghiêm Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 26/12/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo L; - Chi cục THADS H Bảo L; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hồng Liên K’ Tré THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tài Phan Thị Hà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Đình Phong Nguyễn Đình Phong Nguyễn Đình Phong |