- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Đức M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Đức M phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:108/2024/HS-ST Ngày 31-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Thị Hậu
Ông Nguyễn Hoàng Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Đức M, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28/12/1993 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị D; vợ Hoàng Thị K và có 02 con; tiền án: Có 01 tiền án, cụ thể: Ngày 10/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm vào ngày 31/3/2024, tuy nhiên số tiền bồi thường thiệt hại 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) bị cáo chưa bồi thường cho bị hại, do đó xác định đến nay chưa được xóa tiền án. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm; tiền sự: Có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 15/11/2023, bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô đề, hình thức phạt tiền là 350.000 đồng. Ngày 27/11/2023, bị cáo đã nộp tiền phạt. Tuy nhiên, đến ngày phạm tội bị cáo chưa được xóa tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2024, tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lương T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 15 phút ngày 16/9/2024, tổ công tác Công an thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực tổ I, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện Nông Đức M có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm về ma túy nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của Nông Đức M có 01 (một) gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin. Nông Đức M khai mua với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực tổ I, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn với giá 150.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó tổ công tác đã lập biên bản niêm phong toàn bộ số tang vật trên và đưa Nông Đức M về trụ sở để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng.
Tại Kết luận giám định số: 976/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,106 gam (đã trừ bì).
Tại bản Cáo trạng số: 80/CT-VKS-CL ngày 28/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, truy tố bị cáo Nông Đức M về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai nhận mua số ma túy trên về sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Đức M phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự - Xử phạt bị cáo Nông Đức M từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy 0,089 gam chất ma túy Heroine trong 01 (một) gói giấy (phần hao hụt do làm mẫu giám định) để trong 01 (một) phong bì (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T1, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới và vỏ gói giấy (cũ).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng, giải thích hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến ông Lương T (không có lý do). Xét thấy, ông Lương T đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc ông Lương T vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Lương T theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nông Đức M tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 16/9/2024, tại khối I, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Nông Đức M đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Đức M về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 10/12/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm vào ngày 31/3/2024, tuy nhiên số tiền bồi thường thiệt hại 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) bị cáo chưa bồi thường cho bị hại, do đó xác định đến nay chưa được xóa tiền án, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị, là người nghiện ma túy. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với 0,089 gam Heroine (còn lại sau giám định) và vỏ gói (cũ) là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) là người đã bán chất ma túy cho bị cáo. Do không rõ lai lịch và đặc điểm cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn không đủ căn cứ để xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo định tại Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Đức M phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Đức M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/9/2024.
3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,089 gam chất ma túy Heroine trong 01 (một) gói giấy (phần hao hụt do làm mẫu giám định) để trong 01 (một) phong bì (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T1, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới và vỏ gói giấy (cũ).
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Bị cáo Nông Đức M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan CSĐTCA huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Cao Lộc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Hà |