- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 108/2023/HSST Ngày 19 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình C, sinh năm 1999 tại thành phố N; thƣờng trú: Tổ 20, phƣờng L, quận Đ, thành phố N; tạm trú: Số 114 đƣờng Đoàn Văn C, khu phố 3, phƣờng H, thành phố H, tỉnh N; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1971 và bà Đào Thị L, sinh năm 1978; bị cáo có 02 anh, em ruột, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Lê Văn H, sinh năm 1973; thƣờng trú: Số 106/1/12/34 đƣờng X, phƣờng Đ, quận T, Thành phố H. Có mặt.
+ Anh Kim P, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 38/1A ấp L, xã Đ, huyện M, Thành phố H. Có đơn xin vắng mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH Vận tải T; trụ sở: Số 23/20 Nguyễn T, phƣờng T, quận P, Thành phố H. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn X, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 23/20 Nguyễn T, phƣờng T, quận P, Thành phố H. Có đơn xin vắng mặt,
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Đặng Văn N, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 123/5C, Tân Chánh H, phƣờng Tân Chánh H, Quận .., Thành phố Hồ Chí M. Có mặt.
+ Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H; địa chỉ: Số 37 Ký C, phƣờng B, Quận ., Thành phố H.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Hứa Vinh Q; địa chỉ: Số 37 Ký C, phƣờng B, Quận ., Thành phố H. Có mặt.
+ Anh Giáp Văn S, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 484/32 khu phố 5A, phƣờng B, thành phố H, tỉnh N. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng: Đào Thị L, sinh năm 1978. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Đình C đƣợc Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy phép lái xe ô tô hạng B2 ngày 18/10/2018, có giá trị đến ngày 18/10/2028.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/02/2022, Nguyễn Đình C điều khiển xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65 (chở hàng gia dụng đi bán) từ nhà tại: Số 114 Đoàn Văn C, khu phố 3, phƣờng H, thành phố H, tỉnh N để đến khu vực thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đi cùng trên xe còn có bà Đào Thị L (mẹ của C).
Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Đình C điều khiển xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65 lƣu thông trên làn ô tô đƣờng Quốc lộ 1A theo hƣớng từ cầu Đồng Nai – thành phố Biên Hòa về thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Tân Lập, phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Đình C điều khiển xe ô tô do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trƣớc, đã để đầu xe ô tô biển số 60C-292.65 va chạm vào đuôi xe ô tô con biển số 77A-185.41 do anh Lê Văn H điều khiển đang chạy cùng chiều phía trƣớc, làm xe ô tô con biển số 77A-185.41 trƣợt lên phía trƣớc tiếp tục va chạm vào đuôi xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30 do anh Kim P điều khiển đang chạy cùng chiều phía trƣớc, dẫn đến tai nạn giao thông.
Hậu quả: Xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65, xe ô tô con biển số 77A-185.41 và xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30 đều bị hƣ hỏng.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 24/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, thể hiện:
- Hiện trƣờng là đoạn đƣờng thẳng, mặt đƣờng trải nhựa, không có vật che khuất hiện trƣờng. Các phƣơng tiện liên quan còn tại hiện trƣờng. Có dải phân cách bê tông chia phần đƣờng và làn đƣờng.
- Đánh số thứ tự: (1) Xe ô tô tải biển số 60C-292.65, (2) Xe ô tô con biển số 77A-185.41, (3) Xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30, (4) Trụ đèn đƣờng số 49, (5) Dải phân cách bê tông chia làn đƣờng, (6) Dải phân cách bê tông chia phần đƣờng.
- Xác định điểm mốc và lề chuẩn:
+ Lấy trụ đèn đƣờng số 49 làm điểm mốc.
+ Lấy mép dải phân cách bê tông chia phần đƣờng, bên phải theo hƣớng từ cầu Đông Nai về thành phố Thủ Đức làm chuẩn.
- Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:
+ Xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65 (ký hiệu 1) sau tai nạn xe dừng trên mặt đƣờng, đầu xe hƣớng thẳng về thành phố Thủ Đức, đuôi xe hƣớng thẳng về cầu Đồng Nai. Trục bánh xe trƣớc bên trái cách mép chuẩn là 6,50 m. Trục bánh xe sau bên trái cách mép chuẩn là 6,20 m.
+ Xe ô tô con biển số 77A-185.41 (ký hiệu 2) sau tai nạn xe dừng trên mặt đƣờng. Đầu xe hƣớng thẳng đuôi xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30, đuôi xe hƣớng thẳng về đầu xe (1). Trục bánh xe trƣớc bên trái cách mép chuẩn là 7,10 m. Trục bánh xe sau bên trái cách mép chuẩn là 7,00 m và cách trục bánh xe trƣớc bên trái xe (1) là 1,80 m.
+ Xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30 (ký hiệu 3) sau tai nạn xe dừng trên mặt đƣờng. Đầu xe hƣớng thẳng về thành phố Thủ Đức, đuôi xe hƣớng thẳng về đầu xe (2). Trục bánh xe trƣớc bên trái cách mép chuẩn là 6,80 m. Trục bánh xe sau bên trái cách mép chuẩn là 6,50 m và cách trục bánh xe trƣớc bên trái xe (2) là 2,30 m. Trục bánh xe trƣớc bên phải cách trụ đèn đƣờng số 49 là 16,80 m.
* Tại Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 25/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, đối với xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30 (BL76-77), thể hiện:
Cản sau bị thủng từ sau ra trƣớc, tâm thủng cách mặt đất 90cm. Mặt ngoài cản sau bên phải bị trƣợt xƣớc màu đỏ kích thƣớc 10x0,1cm. Cáp dăn quấn cản sau có vết màu đỏ.
* Tại Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 25/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, đối với xe ô tô con biển số 77A-185.41 (BL78-79), thể hiện:
- Xe ô tô con biển số 77A-185.41 hiệu Mazda 2, sơn màu đỏ.
- Nắp ca bô bảo vệ máy bị cong, biến dạng, hƣớng từ trƣớc ra sau.
- Cản trƣớc nhựa bị rách hƣớng từ trƣớc ra sau kích thƣớc 55x6cm.
- Khung xƣơng đầu xe nhựa bị gẫy đôi kích thƣớc 5x4cm.
- Đèn pha phía trƣớc bên trái, bị bể kích thƣớc 50x15cm.
- Vè phía trƣớc bên trái bị biến dạng, móp méo kích thƣớc 47x10cm.
- Hộp cầu chì bị bể kích thƣớc 19x17cm.
- Bình ắc quy bị bể kích thƣớc 19cm.
- Bầu gió động cơ bị bể.
- Cổ gió của động cơ bị bể kích thƣớc 17x2cm.
- Mô bin máy bị gẫy.
- Kính chắn gió trƣớc bị bể kích thƣớc 106x80cm.
- Ốp nhựa kính chắn gió biến dạng, hƣớng từ trƣớc ra sau kích thƣớc 50x17cm.
- Cốp sau móp méo biến dạng hƣớng từ sau ra trƣớc 115x54cm.
- Đèn cốp bên phải bị bể kích thƣớc 21x2cm.
- Đèn lái bên phải bị bể kích thƣớc 16x16cm.
- Đèn cốp bên trái bị bể kích thƣớc 27x14cm.
- Đèn lái bên trái bị bể kích thƣớc 47x14cm.
- Cản sau đuôi xe bị móp méo, biến dạng hƣớng từ sau ra trƣớc, kích thƣớc 115x40cm, tâm cách đất là 70cm.
- Đèn cản sau bên trái bị bể kích thƣớc 16x2cm.
- Kính lƣng bị nứt kích thƣớc 110x70cm.
* Tại Biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 25/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, đối với xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65 (BL80-81), thể hiện:
- Xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65 sơn màu đỏ.
- Nắp ca bô trƣớc bị móp méo, biến dạng, hƣớng từ trƣớc ra sau, có bám dính chất màu xám, bong tróc sơn, trầy xƣớc kích thƣớc 135x60cm, cách mặt đất là 110cm.
- Cụm đèn chiếu sáng trƣớc bên phải bị bể kích thƣớc 45x16cm.
- Mặt trƣớc ga lăng bị bể, móp biến dạng trầy xƣớc sơn, kích thƣớc 115x30cm, tâm cách mặt đất 70cm và bong khỏi khớp nối.
- Cản trƣớc bị bể, gãy, trầy xƣớc, bong tróc sơn kích thƣớc 30x25cm.
* Tại bản Kết luận giám định số 34/SCKT-KTHS ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, về kỹ thuật an toàn của xe ô tô tải thùng mang biển kiểm soát 60C-292.65, xác định: Tại thời điểm giám định xe ô tô tải thùng mang biển kiểm soát 60C-292.65, nhƣ sau:
- Hệ thống lái: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.
- Hệ thống phanh: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hƣ hỏng do sự cố kỹ thuật.
* Tại bản Kết luận giám định số 217/KL-KTHS(CH) ngày 10/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng về dấu vết cơ học, xác định:
1. Dấu vết va chạm giữa hai phƣơng tiện là:
- Dấu vết trƣợt xƣớc, bám dính chất màu bạc (dạng sơn), móp biến dạng giữa nắp ca pô, giữa cản trƣớc xe ô tô tải biển số 60C-292.65, có chiều từ trƣớc về sau phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc, móp biến dạng giữa nắp cốp sau, cản sau, vỡ khuyết cụm đèn sau xe ô tô con biển số 77A-185.41, có chiều từ sau về trƣớc.
- Dấu vết trƣợt xƣớc sơn màu đỏ, bám dính chất màu trắng (dạng sơn), móp biến dạng nắp ca pô xe ô tô con biển số 77A-185.41, có chiều từ trƣớc về sau phù hợp với dấu trƣợt xƣớc sơn màu trắng, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), cong ép giữa cản sau xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30, có chiều từ sau về trƣớc.
2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa ba phƣơng tiện là: Phần phía trƣớc đầu xe ô tô tải biển số 60C-292.65 va chạm vào phần phía sau đuôi xe ô tô con biển số 77A-185.41. Phần đầu xe ô tô con biển số 77A-185.41 tiếp tục va chạm vào phần phía sau đuôi xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30 theo hƣớng từ sau về trƣớc tạo ra dấu vết trên ba phƣơng tiện.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 24/BBĐG-HĐĐGTS, ngày 04/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong Tố tụng hình sự – UBND thành phố Dĩ An, xác định: Tổng giá trị các bộ phận bị hƣ hỏng thiệt hại của xe ô tô con biển số 77A-185.41 là 177.357.600 đồng (Một trăm bảy mƣơi bảy triệu ba trăm năm mƣơi bảy nghìn sáu trăm đồng).
* Kết quả kiểm tra (đo nồng độ cồn qua khí thở), xác định: Nguyễn Đình C không sử dụng rƣợu bia.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65, màu đỏ, nhãn hiệu Suzuki, số máy G16AID209020, số khung N71TCJ302650 của Nguyễn Đình C.
- 01 (một) xe ô tô tải cẩu biển số 51D-656.30. Quá trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu của Công ty TNHH Vận tải T. Ngày 06/4/2022, Đội CSGT-TT Công an thành phố Dĩ An trả lại xe cho Công ty TNHH Vận tải T.
- 01 (một) xe ô tô con biển số 77A-185.41. Quá trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu của anh Đặng Văn N. Ngày 06/4/2022, Đội CSGT-TT Công an thành phố Dĩ An trả lại xe cho anh Đặng Văn N.
- Giấy phép lái xe hạng B2 tên Nguyễn Đình C.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Nguyễn Đình C điều khiển xe ô tô vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đƣờng bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2019), lỗi chính gây tai nạn giao thông, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo Điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm d khoản 1 Điều 260; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Xe ô tô con biển số 77A-185.41 bị hƣ hỏng, Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H đã bảo lĩnh thanh toán tiền sửa chữa cho anh Đặng Văn Nhàn (chủ xe ô tô con biển số 77A-185.41). Anh Đặng Văn N yêu cầu Nguyễn Đình C phải bồi thƣờng số tiền là 222.731.652 đồng chi phí sửa chữa xe ô tô con biển số 77A-185.41 đồng.
* Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65, màu đỏ, nhãn hiệu Suzuki, số máy G16AID209020, số khung N71TCJ302650 của Nguyễn Đình C cần tịch thu để đảm bảo việc thi hành án theo quy định.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai của bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 12 giờ 10 ngày 24/02/2022, Nguyễn Đình C điều khiển xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65 lƣu thông trên đƣờng Quốc lộ 1A hƣớng từ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về hƣớng thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Tân Lập, phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Đình C điều khiển xe ô tô do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trƣớc, đã để đầu xe ô tô biển số 60C-292.65 va chạm vào đuôi xe ô tô con biển số 77A-185.41 do anh Lê Văn H điều khiển đang chạy cùng chiều phía trƣớc gây tai nạn giao thông, làm xe xe ô tô con biển số 77A-185.41 bị hƣ hỏng, thiệt hại số tiền là 177.357.600 đồng.
Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đƣờng bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2019), lỗi chính gây tai nạn giao thông, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số 69/CT-VKS-DA ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo Điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp khắc phục một phần hậu quả số tiền 100.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tại phiên tòa bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kể từ khi đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Bị cáo có đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng không ảnh hƣởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phƣơng. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H đã bảo lĩnh thanh toán tiền sửa chữa cho anh Đặng Văn Nhàn (chủ xe ô tô con biển số 77A-185.41), anh N, anh Hào và Công ty bảo hiểm BSH thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Nguyễn Đình C phải bồi thƣờng số tiền là 222.731.652 đồng chi phí sửa chữa xe ô tô con biển số 77A-185.41 cho Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H. Tại phiên tòa bị cáo C đồng ý bồi thƣờng số tiền trên cho Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên nên ghi nhận. Do bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An số tiền 100.000.000 đồng nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thƣờng số tiền 122.731.652 đồng.
Về xử lý vật chứng: Xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65, màu đỏ, nhãn hiệu Suzuki, số máy G16AID209020, số khung N71TCJ302650 do bị cáo mua của anh Giáp Văn S nhƣng hiện nay chƣa sang tên bị cáo nên cần tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An quản lý để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp. Tuy nhiên về mức hình phạt là chƣa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
- Áp dụng Điểm d khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 01 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Đình C thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An tiếp tục quản lý 01 (một) xe ô tô tải thùng biển số 60C-292.65, màu đỏ, nhãn hiệu Suzuki, số máy G16AID209020, số khung N71TCJ302650 và 01 giấy chứng nhận đăng ký ô tô biển số 60C-292.65 của bị cáo Nguyễn Đình C do ông Giáp Văn S đứng tên trong giấy chứng nhận để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 468, 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình C bồi thƣờng số tiền 222.731.652 đồng đồng cho Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H, đƣợc khấu trừ số tiền 100.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002498 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Bị cáo còn phải bồi thƣờng số tiền 122.731.652 đồng cho Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H – Công ty bảo hiểm H Thành phố H.
Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Đình C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.136.582 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (07); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phƣờng bị cáo cƣ trú (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |