- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Võ Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2023/HS-ST Ngày 09-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Trường
Bà Phan Thị Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2023/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Võ Minh L tên gọi khác: không, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1994 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ D và bà Phan Thị Ngọc L1; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 - Tại Bản án số 29/2022/HSST ngày 28/02/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh BR-VT, Võ Minh L bị xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/06/2022; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 11/4/2023 (có mặt).
Người làm chứng:
- Nguyễn Tấn B, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Nguyễn Đình Xuân L2, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Minh L là người nghiện ma túy tổng hợp từ năm 2017. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 11/04/2023, L đi đến khu vực chùa T1 thuộc xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, gặp một người phụ nữ tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 03 (ba) gói ma túy với giá 1.400.000đ (một triệu bốn trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma túy, L cất giấu vào trong túi quần trước bên phải mà L đang mặc rồi đi đến thuê phòng nghỉ số 10 của nhà nghỉ L3 thuộc tổ A, khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh BR-VT để ở và sử dụng ma túy. Đến 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi L đang ở trong phòng số 10 của nhà nghỉ L3 thì bị Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính, bắt quả tang Võ Minh L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 03 (ba) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen.
Tại bản kết luận giám định số: 149/KLGĐ-PC09-MT ngày 18-04-2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu A gửi giám định có khối lượng 2,9175 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
* Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 06 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Võ Minh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:
Giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với Võ Minh L đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong đề số 149 ngày 18/04/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với người phụ nữ tên T là người đã bán trái phép chất ma túy cho L, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý theo quy định.
* Lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến bào chữa. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Nhận thấy lời khai của bị cáo Võ Minh L tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đã xác định được: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 11/04/2023 tại tổ A, khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Võ Minh L đang có hành vi tàng trữ trái phép 03 (ba) gói ma túy có tổng khối lượng 2,9175 gam, là ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của Võ Minh L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt tù thật nghiêm khắc để nhằm răn đe, giáo dục đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy và không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong đề số 149 ngày 18-4-2023 của Phòng K công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi, model:M1908C3IG màu đen, không tìm thấy số I, máy đã cũ và không còn hoạt động do liên quan đến hành vi phạm tội.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật
Đối với người phụ nữ tên T là người đã bán trái phép chất ma túy cho L, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Võ Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm h, khoản 1 Điều 52, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Võ Minh L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt là ngày 11-4-2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Võ Minh L
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề số 149 ngày 18-4-2023 của Phòng K công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi, model: M1908C3IG màu đen, không tìm thấy số I, máy đã cũ và không còn hoạt động.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 107//BB-CCTHADS ngày 07-7-2023.
3. Về án phí: Bị cáo Võ Minh L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - CCTHADS thị xã Phú Mỹ; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Công an tỉnh BR-VT (PV06) - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Liên |