- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2023/HS-ST Ngày 19-4-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2023/TLST-HS ngày 31/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST- HS ngày 07/4/2023 đối với bị cáo:
Vì Văn C, sinh năm 1984 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vì Văn M và bà Vì Thị N; bị cáo có vợ là Hoàng Thị D và 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2023 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10h30 ngày 14/02/2023 tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L chủ trì phối hợp các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại bản C, xã C, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Vì Văn C đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Vì Văn C đang cầm trong tay phải 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 38 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. C khai nhận đó là Methamphetamine của C cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Vì Văn C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Vì Văn C đến Đồn Biên phòng Cửa khẩu L để điều tra, làm rõ.
Ngày 15/02/2023 Đồn Biên phòng Cửa khẩu L tiến hành xác định khối lượng viên nén màu hồng thu giữ của Vì Văn C được 3,8 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,5 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C.
Tại Kết luận giám định số 383 ngày 16/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,5 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,8 gam; loại Methamphetamine.”
Quá trình điều tra, Vì Văn C khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 7h ngày 14/02/2023 C đi bộ đến khu vực biên giới thuộc bản T, xã C, huyện M để tìm mua ma túy mang về sử dụng. Đến nơi, C gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi C đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 38 viên hồng phiến được gói trong gói nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. C cầm gói ma túy vừa mua được đi về đến bản C, xã C, huyện M thì gặp tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu L phối hợp lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 65/CT- VKS ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vì Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vì Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Vì Văn C từ 03 năm đến 04 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ: Vì Văn C, bắt ngày 14/02/2023 (vật chứng còn lại L = 33 viên và phong bì niêm phong ban đầu; mảnh nilon màu trắng ban đầu) và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Vì Văn C, ngày 14/2/2023, kq: Dương tính.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn C.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với giá 200.000 đồng vào ngày 14/02/2023, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vì Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên ngày 14/02/2023 bị cáo Vì Văn C đã có hành vi tàng trữ 3,8 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Vì Văn C không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.
[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ: Vì Văn C, bắt ngày 14/02/2023 (vật chứng còn lại L = 33 viên và phong bì niêm phong ban đầu; mảnh nilon màu trắng ban đầu) và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Vì Văn C, ngày 14/2/2023, kq: Dương tính. Xét thấy, đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[ ] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Vì Văn C quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
[ ] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn C.
Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Văn C 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 14/02/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ: Vì Văn C, bắt ngày 14/02/2023 (vật chứng còn lại L = 33 viên và phong bì niêm phong ban đầu; mảnh nilon màu trắng ban đầu) và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Vì Văn C, ngày 14/2/2023, kq: Dương tính theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 100/BBVC-CCTHA ngày 03/4/2023 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn C.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tư pháp ; - Bị cáo; - Án văn, Lưu HSVA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hƣơng |