vanban.org

Bản án 108/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 03/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Phước N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lưu Phước N, 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 15/03/2023). Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Phước N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2023/HS-ST
Ngày: 03 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ -TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Lệ Nga.

- Ông Nguyễn Quốc Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tình- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá,

tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Phước N, sinh ngày 29/9/1985.

Nơi ĐKHKTT: Số 95 T, phường VH, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Số 85 Nguyễn Thị Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Phước Nh và bà Phan Kim V; vợ: Võ Thị Tuyết M (đã ly hôn); con ruột có 02 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; em ruột có 01 người sinh năm 1990.

Tiền sự: Chưa.

Tiền án: Ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 213/2019/HS-ST), chấp hành xong ngày 01/5/2021, chưa xóa án tích.

Ngày 15/3/2023, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang và bị tạm giữ; đến ngày 24/3/2023 bị tạm giam theo Lệnh số 48 ngày 24/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

- Nguyễn Hữu P, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 2 khu phố 3, phường Vĩnh Thông, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 44 NTĐ, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên

Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 15/3/2023, tại nhà số 85, NTĐ, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường Vĩnh Hiệp phát hiện bắt quả tang Lưu Phước N đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong ngăn tủ nhựa tại phòng ngủ của N một hộp giấy màu trắng có chứa hộp kim loại, bên trong hộp kim loại có chứa 01 (một) bịch ny lon trong suốt có rãnh gài được hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 (một) bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa một mảnh viên nén màu xanh (bút lục số: 01 đến 03).

Qua điều tra xác định, Lưu Phước N là đối tượng có 01 (một) tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành án xong N bắt đầu sử dụng lại ma túy từ khoảng tháng 02/2023, loại ma túy sử dụng là khay và thuốc lắc. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 14/3/2023 N hỏi mua 01 bịch ma túy khay và 01 viên thuốc lắc giá 700.000 đồng của người tên Khanh (không rõ họ tên thật, địa chỉ) ở khu vực đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá. Sau đó, N đem ma túy về nhà chia nhỏ ra sử dụng, phần còn lại cất vào ngăn tủ nhựa trong phòng ngủ thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Ngày 24/03/2023, Lưu Phước N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, tạm giam để điều tra, (bút lục số: 51 đến 57, 63 đến 66).

Trong quá trình điều tra và truy tố, bị can Lưu Phước N thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bịch ny lon trong suốt có rãnh gài được hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng;

- 01 (một) bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa một mảnh viên nén màu xanh;

Tất cả được niêm phong theo quy định.

- 01 (một) hộp giấy màu trắng;

- 01 (một) hộp kim loại (bút lục số: 01 đến 04).

* Tại bản Kết luận giám định số 273/KL-KTHS, ngày 22/03/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

- Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0608 gam.

- 01 (một) mảnh viên nén màu xanh chứa trong 01 (một) bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0955 gam

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 28/5/2022 của chính phủ.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 28/5/2022 của chính phủ (bút lục số: 26).

* Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSRG ngày 07/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lưu Phước N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khỏan 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 273/2023 ngày 23/3/2023, có các chữ ký ghi họ tên: Người chứng kiến Nguyễn Giang Trường, Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”;

- 01 (một) hộp giấy màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) hộp kim loại, đã qua sử dụng

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 54 ngày 25/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Lưu Phước N khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 15/3/2023, tại nhà số 85, NTĐ, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường Vĩnh Hiệp phát hiện bắt quả tang Lưu Phước N đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong ngăn tủ nhựa tại phòng ngủ của N một hộp giấy màu trắng có chứa hộp kim loại, bên trong hộp kim loại có chứa 01 (một) bịch ny lon trong suốt có rãnh gài được hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 (một) bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa một mảnh viên nén màu xanh. Qua kết luận giám định được xác định như sau:

- Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0608 gam.

- 01 (một) mảnh viên nén màu xanh chứa trong 01 (một) bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0955 gam

- Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lưu Phước N cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy; làm suy thoái đạo đức, lối sống; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Bản thân BC là người có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến nay chưa được xóa án tích; Ngày 15/3/2023 tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo nhận thức về hành vi sai trái của mình, đồng thời răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên xét xử xét thấy nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho BC, thể hiện sự khoan hồng của nhà nước đối với người thật sự biết ăn năn hối cải, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo sớm hòa nhập với cộng đồng.

- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp và được HĐXX xem xét chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 273/2023 ngày 23/3/2023, có các chữ ký ghi họ tên: Người chứng kiến Nguyễn Giang Trường, Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”;

- 01 (một) hộp giấy màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) hộp kim loại, đã qua sử dụng

Theo QĐ chuyển giao vật chứng số 104/QĐ-VKS ngày 07 tháng 06 năm 2023.

Các vấn đề khác: Đối với người tên đàn ông tên Khanh do chưa xác định rõ, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, khi xác định có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Phước N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lưu Phước N, 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 15/03/2023).

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 273/2023 ngày 23/3/2023, có các chữ ký ghi họ tên: Người chứng kiến Nguyễn Giang Trường, Giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”;

- 01 (một) hộp giấy màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) hộp kim loại, đã qua sử dụng

Theo QĐ chuyển giao vật chứng số 104/QĐ-VKS ngày 07 tháng 06 năm 2023.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/7/2023). * Nơi nhận:

Cỡ chữ