vanban.org

Bản án 108/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Phạm Khắc T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nhã Nam, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phạm Khắc T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nhã Nam, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2023/HS-PT
Ngày: 24-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 197/TLPT-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Khắc T, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Khắc T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Phạm Khắc T, sinh năm 1955

Tên gọi khác: không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Khắc V (đã chết) và bà: Nguyễn Thị S (đã chết); vợ: Lê Thị V, sinh năm 1955; con: có 03 con; con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1985; tiền án: không; tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2023 đến ngày 30/3/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có một số bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 28/3/2023, tại nhà của gia đình Nguyễn Bá H, sinh năm 1958; trú quán thôn Đ, xã T, huyện T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện bắt quả tang 04 đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức chơi Chắn được thua bằng tiền gồm: Phạm Khắc T, sinh năm 1955 và Nguyễn Hồng T, sinh năm 1967 cùng trú quán: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T; Lê Khắc H, sinh năm 1972, trú quán thôn T, xã T và Nguyễn Văn H, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã A, huyện Y, Bắc Giang. Vật chứng khi bắt quả tang gồm: Tiền thu tại chiếu bạc 6.710.000 đồng; 01 thảm nỉ, 01bộ bài tổ tôm 100 lá bài, 01 bát sứ. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ trên người một số đối tượng tổng số tiền 3.060.000 đồng (bao gồm 2.300.000 đồng của Nguyễn Văn H, 760.000 đồng của Phạm Khắc T ) và 05 điện thoại di động (gồm của Hải 02 chiếc, Th, Nguyễn Văn H và T mỗi người 01 chiếc).

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 28/3/2023, khi Nguyễn Bá H, sinh năm 1958; trú quán thôn: Đ, xã T, huyện T đang ở nhà thì Lê Khắc H, sinh năm 1972; trú tại thôn T, xã T, huyện Y; Phạm Khắc T, sinh năm 1955; trú tại Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, Nguyễn Văn H, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã A, huyện Y và Nguyễn Hồng Th - sinh năm 1967, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T đến sau đó rủ nhau đánh bạc hình thức chơi Chắn được thua bằng tiền. Các đối tượng thống nhất góp hội 200.000 đồng, khi kết thúc cuộc chơi thì mỗi người trả cho Nguyễn Bá H 50.000 đồng, được H đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại phòng ngủ tầng 2 nhà mình.

Cách thức đánh chắn và mức sát phạt là: Người chơi dùng bộ bài 100 quân có các hàng Vạn, Văn, Sách, các cây từ Nhị đến Cửu và 04 cây Chi. Người chơi được chia đều mỗi người 19 quân bài, riêng người cầm cái được 20 quân và là người đánh đầu tiên, số bài còn lại để dưới đĩa gọi là Nọc. Hai quân giống nhau gọi là chắn, hai quân cùng loại gọi là cạ. Thứ tự đánh từ phải qua trái, người chơi đánh 01 quân bài bất kỳ trên tay, người bên phải có thể “ăn” hoặc bốc bài dưới Nọc. Cứ đánh như vậy đến khi có người ù hoặc bốc hết Nọc mà không có người ù thì ván bài kết thúc. Các đối tượng trên đánh bạc đến 10 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện T bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã chứng minh tổng số tiền các bị can sử dụng đánh bạc là 6.710.000 đồng, là tiền thu giữ trên chiếu bạc khi bắt quả tang. Cụ thể: Phạm Khắc T sử dụng 3.510.000 đồng, Lê Khắc H sử dụng 1.200.000 đồng, Nguyễn Văn H và Nguyễn Hồng Th mỗi đối tượng sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Bá H chủ nhà không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng sử dụng địa điểm nhà mình cho đánh bạc, đồng ý việc các đối tượng cho 200.000 đồng sau khi đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm trong vụ án.

Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Khắc T 09 (chín) tháng tù về tội “ Đánh bạc” nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/3/2023 đến ngày 30/3/2023, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn quyết định xử phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định.

Ngày 31/5/2023 bị cáo Phạm Khắc T kháng cáo bản án sơ thẩm nói trên với nội dung án sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là nặng, bị cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Khắc T kháng cáo xin hưởng án treo và trình bày: Bản án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên, bị cáo tuổi đã cao, phạm tội lần đầu và rất hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo, thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng, bị cáo tham gia quân đội từ năm 1979 và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, sau khi phục viên về địa phương có tham gia Hội cựu chiến binh, bị cáo chủ động nộp tiền phạt 10.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người đúng tội và không oan. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo 09 tháng tù là đã cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, tuổi đã cao, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tham gia quân đội và được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì. Do vậy, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo chủ động nộp tiền phạt 10.000.000 đồng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo tuổi cao, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Khắc T, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Khắc T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Đối với hành vi ghi lô đề số tiền 430.000 đồng trong quá trình vụ án này cơ quan điều tra huyện T, tỉnh Bắc Giang đã tách hành vi này ra để tiếp tục điều tra đến nay chưa xử lý. Do vậy không xem xét.

Xác nhận bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tiền phạt tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để cái tạo tại địa phương vì tuổi cao và ân hận về hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy:

Về tội danh: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 28/3/2023, tại nhà của gia đình bị cáo Nguyễn Bá H có Phạm Khắc T, Nguyễn Hồng Th, Lê Khắc H và Nguyễn Văn H rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh chắn ăn tiền. Số tiền các bị cáo T, Th, H, H dùng vào việc đánh bạc là 6.710.000 đồng. Đối với bị cáo Nguyễn Bá H không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các bị cáo nhưng đã đồng ý để cho các bị cáo T, H, Th, Nguyễn Văn H sử dụng địa điểm nhà mình cho các bị cáo khác đánh bạc mục đích để nhận của các bị cáo Phạm Khắc T, Nguyễn Hồng Th, Lê Khắc H và Nguyễn Văn H mỗi người 50.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm về tội đánh bạc.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HSST ngày 17/5/2023 xét xử đối với bị cáo Phạm Khắc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp, đúng quy định. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Xét thấy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp chủ động nộp tiền phạt 10.000.000 đồng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật tốt của bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do Bị cáo tuổi cao, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng. Để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú giáo dục bị cáo cũng có thể trở thành công dân tốt. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Khắc T, sửa bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ và phù hợp và đúng quy định pháp luật.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử không xem xét.

Xác nhận bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tiền phạt tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận và bị cáo trên 60 tuổi (là người cao tuổi), nên bị cáo không phải chịu án phí và được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Khắc T, sửa bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Khắc T 09 (chín) tháng tù về tội “ Đánh bạc” nhưng nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phạm Khắc T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nhã Nam, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Xác nhận bị cáo Phạm Khắc T đã nộp 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004966 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bắc Giang.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Phạm Khắc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ