- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Khánh H đối với bị đơn bà Nguyễn Thùy D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.
2. Ông Đặng Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 223/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Khánh H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, đường Q, tổ C, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A, đường T, khu dân cư C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Khánh H trình bày:
Ông Đỗ Khánh H và bà Nguyễn Thùy D là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84/2021, ngày 28 tháng 12 năm 2021. Sau khi kết hôn, ông H và bà Nguyễn Thùy D chung sống tại địa chỉ số A, đường T, khu dân cư C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn. Ông H và bà D không còn sống chung từ tháng 4 năm 2023 đến nay; ông H đã chuyển về sinh sống tại địa chỉ số A, đường Q, tổ C, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4 năm 2023 đến nay; cả hai đã không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau và cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà D.
Về con chung: Ông H và bà D có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2021. Từ thời điểm ông H và bà D không còn sống chung thì cháu Q sống cùng với bà D, do bà D nuôi dưỡng. Do cháu Q hiện nay chỉ mới 21 tháng tuổi nên khi ly hôn, ông H yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà D nuôi dưỡng. Hiện nay ông H có mức thu nhập bình quân hàng tháng là 20.000.000 đồng; khi ly hôn, ông Hòa đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thùy D được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà D không đến Tòa án nhân dân thành phố T làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án, vì vậy Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn bà D về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, ông H và bà D hiện nay không còn sống chung; quá trình giải quyết vụ án, bà D cũng vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông H. Như vậy, có căn cứ xác định mẫu thuẫn giữa ông H và bà D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà D là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung: Ông H và bà D có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2021; từ thời điểm ông H và bà D không còn sống chung đến nay thì bà D là người nuôi dưỡng cháu Q; đồng thời cháu Q hiện nay chỉ mới được 22 tháng tuổi. Do đó, cần thiết giao con chung cho bà D nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi, đây là ý chí tự nguyện của ông H và đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho cháu Q nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà D nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà D đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn ông H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, bị đơn bà D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa vào các ngày 28 tháng 8 năm 2023 và 25 tháng 9 năm 2023 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228, và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà D tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 84/2021, ngày 28 tháng 12 năm 2021. Hôn nhân của ông H và bà D là hợp pháp.
Ông H cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung; hiện nay ông H và bà D không còn sống chung, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình; do đó ông H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà D.
Hội đồng xét xử xét thấy qua xác minh tại địa phương để xác định nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng ông H và bà D thì địa phương không rõ vì vợ chồng ông H và bà D không trình báo với địa phương về vấn đề mâu thuẫn gia đình. Tuy nhiên thực tế, tình cảm vợ chồng giữa ông H và bà D đã không còn nên ông H mới khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà D; bà D được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án, chứng tỏ bà D cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông H. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông H và bà D đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn; mục đích hôn nhân giữa ông H và bà D không đạt được. Do đó yêu cầu của ông H về việc được ly hôn với bà D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông H và bà D có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2021. Hiện nay cháu Q chỉ mới được 22 tháng tuổi; đồng thời từ thời điểm ông H và bà D không còn sống chung đến nay thì bà D là người nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cháu Q thì cần giao cháu Q cho bà D nuôi dưỡng. Ông H yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà D nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện nay ông H có mức thu nhập trung bình là 20.000.000 đồng/tháng, việc ông Hòa đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 đồng/tháng là đủ đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho cháu Q và phù hợp với mức thu nhập của ông H. Quá trình giải quyết vụ án, bà D cũng không có ý kiến về mức cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy số tiền ông H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng là phù hợp, có căn cứ theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Khánh H đối với bị đơn bà Nguyễn Thùy D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Khánh H được ly hôn với bà Nguyễn Thùy D.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2021 cho bà Nguyễn Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Đỗ Khánh H và bà Nguyễn Thùy D được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở. Trường hợp ông Đỗ Khánh H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của bà Nguyễn Thùy D thì bà Nguyễn Thùy D có quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con của ông Đỗ Khánh H theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đỗ Khánh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đỗ Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2021 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 25 tháng 9 năm 2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đỗ Khánh H phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0003052 ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Đỗ Khánh H còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng |