- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2023/DS-ST Ngày 28-12-2023 V/v: “Kiện tranh chấp HĐ vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngụy Thế Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Văn Toan.
2. Ông Trần Tiến Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaH’leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện EaH’leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST-DS, ngày 18/5/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2023/QĐXXST-DS ngày 20/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2023/QĐ-HPT ngày 11/12/2023 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979. Địa chỉ: TDP X, Thị trấn Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn X, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Ngày 17/8/2020 tôi có cho ông Huỳnh Văn N vay số tiền 630.000.000 đồng, ông N hẹn tôi 03 tháng sau sẽ trả cho tôi số tiền vay trên. Hai bên có viết giấy vay tiền và ông Huỳnh Văn N có ký xác nhận. Tuy nhiên đến thời hạn trả nợ đã lâu ông N vẫn không trả cho tôi khoản tiền nào, mặc dù tôi có đòi nợ nhiều lần.
Nay tại Tòa án tôi yêu cầu ông Huỳnh Văn N phải trả cho tôi số tiền gốc vay là 630.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo quy định pháp luật. Ngoài ra tôi không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Huỳnh Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành ghi nhận ý kiến được.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc ông Huỳnh Văn N phải trả cho bà Nguyễn Thị L số nợ gốc là 630.000.000 đồng, phải trả lãi suất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, HĐXX xét thấy:
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Văn N vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về việc số tiền vay còn nợ của bà L. Theo đơn yêu cầu thu thập chứng cứ và đơn đề nghị trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của nguyên đơn. Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo đã ra quyết định trưng cầu giám định số 22/2023/QĐ-TCGĐ ngày 06/10/2023 yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Huỳnh Văn N trong giấy vay tiền ngày 17/8/2020.
Căn cứ kết luận giám định số 1300/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận chữ ký, chữ viết mang tên Huỳnh Văn N trong giấy vay tiền ngày 17/8/2020 (ký kiệu A1) so với chữ ký, chữ viết mang tên Huỳnh Văn N tại Hợp đồng tín dụng số 5207LAV202200176 ngày 19/01/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 241231572/HĐTC ngày 25/01/2021; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đề ngày 25/01/2021 đã được lưu tại hồ sơ vụ án của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (kí hiệu M1, M2, M3) xác định do ông Huỳnh Văn N ký và viết ra.
Như vậy, đã có đủ cở sở xác định: Ngày 17/8/2020 ông Huỳnh Văn N có ký nhận vay của bà Nguyễn Thị L số tiền là 630.000.000 đồng.
Xét việc vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, nên đây là giao dịch hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên từ khi vay cho đến nay, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ nhưng bị đơn chưa trả được khoản tiền nào cho nguyên đơn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn N phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền gốc là 630.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo quy định là phù hợp với các Điều 463, 465, 466 Bộ luật dân sự 2015.
. Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự lãi suất được tính như sau:
Do trong Giấy xác nhận nợ ngày 17/8/2020 các bên xác định thời hạn trả nợ nhưng không thỏa thuận về lãi suất nên HĐXX chấp nhận tính mức lãi suất 10%/năm tương ứng với mức 0.83%/tháng đối với khoản vay cụ thể như sau:
Lãi suất tính từ ngày 17/8/2020 đến ngày 28/12/2023: 630.000.000đồng x 0.83%/tháng x 40,3 tháng = 210.728.000 đồng.
Tổng nợ gốc và lãi là: 840.728.000 đồng
. Về chi phí giám định: Ông Huỳnh Văn N phải chịu toàn bộ chi phí trưng cầu giám định số tiền là 4.860.000 đồng. Do bà L đã nộp tạm ứng chi phí giám định 4.860.000 đồng, nên cần buộc ông N phải hoàn trả cho bà L số tiền 4.860.000 đồng chi phí trưng cầu giám định.
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên cần buộc bị đơn ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 91, điểm b khoản 1 Điều 92, Điều 147, Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 465, Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
1. Buộc ông Huỳnh Văn N phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L tổng số tiền 840.728.000 đồng (Tám trăm bốn mươi triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 630.000.000 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu đồng) và tiền nợ lãi là 210.728.000 đồng (Hai trăm mười triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí giám định: Ông Huỳnh Văn N phải chịu toàn bộ chi phí giám định là 4.860.000 đồng và hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L 4.860.000 đồng tiền giám định sau khi thu được từ ông Huỳnh Văn N.
3. Về án phí: Ông Huỳnh Văn N phải chịu 37.221.000 đồng (Ba mươi bảy triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo theo biên lai số AA/2021/0011351, ngày 12 tháng 5 năm 2023.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện KSND huyện Ea H’leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’leo; - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Lưu hồ sơ, vi tính. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguỵ Thế Xuân |