- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Minh T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Minh T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội: sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HSST Ngày: 29/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quang Trường.
2. Bà Lương Thị Kim Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Cáp Minh Hào - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an thị xã Điện Bàn tiến hành xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo: Họ và tên: HÀ MINH T - Sinh ngày 15/4/1990; Nơi ĐKHKTT: khối phố CN, phường ĐA, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: thôn AT, xã ĐTN, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Hà Minh T và con bà Kiều Thị Th; Bị cáo có vợ Đoàn Thị Kim H và có 01 con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bắt tạm giam ngày 05/7/2022 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
+ Bị hại: Ông Hà Phước H - Sinh năm 1985 (vắng mặt); Địa chỉ: Khối NL, phường ĐA, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Từ Thanh T – Sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn DMT, xã QX 1, huyện Qué Sơn, t. Quảng Nam.
- Bà Đoàn Thị Kim H - Sinh năm 1989 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn AT, xã ĐTN, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2018, bà Đoàn Thị Kim H là vợ Hà Minh T được cha ruột là ông Đoàn Đ tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 955, tờ bản đồ số 01, diện tích 141,9m2 tại thôn Thanh Tú, xã Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn. Tháng 4/2020, vợ chồng T, H mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 955, tờ bản đồ số 01, diện tích 141,9m2 cấp cho bà Đoàn Thị Kim H để thế chấp tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt - Phòng giao dịch Điện Bàn vay số tiền 300.000.000 đồng. Đến tháng 12/2020 để có tiền trả nợ Ngân hàng sớm lấy giấy chứng nhận QSD đất về, T lên mạng xã hội tìm kiếm địa chỉ làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua tìm kiếm, T liên lạc được với một tài khoản Zalo tên Quỳnh Trang, người này nhận làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 14.000.000 đồng. T cung cấp thông tin, tài liệu cho Zalo Quỳnh Trang làm giấy tờ giả, nhưng khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả T phát hiện sai địa chỉ nên trả lại cho nhân viên giao hàng, đồng thời liên lạc với Zalo Quỳnh Trang yêu cầu làm lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đoàn Thị Kim H với giá 15.000.000 đồng (thêm 1.000.000 đồng so với ban đầu). Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả theo yêu cầu, T mang đến tiệm cầm đồ của ông Hà Phước H thế chấp vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông H tin tưởng T có tài sản nên đồng ý cho T vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông H yêu cầu đến Văn phòng Công chứng làm thủ tục thì ông H mới cho vay tiền. Chiều ngày 12/01/2021 T gọi điện cho bà H đến Văn phòng Công chứng Điện Bàn để công chứng hợp đồng và lập thủ tục vay thì Công chứng viên phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên báo Công an đến lập biên bản xử lý.
Kết luận giám định số 19/PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận:
- Phôi của tài liệu cần giám định ký hiệu A so với mẫu phôi so sánh ký hiệu M1 không phải được in ra từ cùng phương pháp in.
- Hình dấu tròn có nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có hình dấu tròn mang nội dung “ SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 đóng ra.
- Hình dấu tròn có nội dung “CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI ĐIỆN BÀN” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có hình dấu tròn mang nội dung “CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI ĐIỆN BÀN” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4 đóng ra.
- Chữ ký đứng tên Trần Thanh Hà trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Trần Thanh Hà trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 và M3 không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký đứng tên Bùi Thị Ánh Tuyết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Bùi Thị Ánh Tuyết trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4 không phải do cùng một người ký ra.
Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố Hà Minh T về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố Hà Minh T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự mức hình phạt còn lại đối với bị cáo từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 03 tháng tù.
- Áp dung điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội :“Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội đối với bị cáo T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tháng 4/2020, Hà Minh T cùng vợ là Đoàn Thị Kim H mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 955, tờ bản đồ số 01, diện tích 141,9m2 cấp cho bà Đoàn Thị Kim H để thế chấp tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt- Phòng Giao dịch Điện Bàn vay số tiền 300.000.000 đồng. Đến tháng 12/2020 để có tiền trả nợ Ngân hàng sớm lấy giấy chứng nhận QSD đất về, T lên mạng liên lạc với người có tài khoản Zalo Quỳnh Trang đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP434142 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 09/10/2018 đứng tên bà Đoàn Thị Kim H đối với thửa đất số 955, tờ bản đồ số 01, diện tích 141,9m2 với giá 15.000.000 đồng. T cung cấp thông tin, tài liệu cho đối tượng làm giấy tờ giả. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả T đến gặp ông Hà Phước H thỏa thuận thế chấp vay số tiền 200.000.000 đồng và dẫn ông H đi xem đất. Ông H tin tưởng T có tài sản nên đồng ý cho T vay số tiền 200.000.000 đồng. Đến ngày 12/01/2021, T đến Văn phòng Công chứng Điện Bàn để lập thủ tục vay tiền và nhận tiền với ông H thì bị Công chứng viên phát hiện nên trình báo Công an đến lập biên bản xử lý.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản ghi nhận sự việc được lập ngày 12/01/2021, bản kết luận giám định tài liệu số 19/PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, biên bản xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Điện Bàn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời qua tranh luận bị cáo đồng ý với luận tội đề nghị kết tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Do đó quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn và luận tội đề nghị kết tội của Kiểm sát viên trong phần tranh luận đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật và được HĐXX chấp nhận.
Đánh giá, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng để có tiền đáp ứng nhu cầu cá nhân nên bị cáo bất chấp pháp luật, thuê người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên vợ Đoàn Thị Kim H rồi sử dụng giấy chứng nhận QSD đất giả để lừa đảo ông Hà Phước H vay số tiền 200.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức, mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hà Minh T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội trong đó tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi vụ án phát hiện bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có tình tiết giảm nhẹ khác như phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Đối với tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, bị cáo chưa nhận tiền từ ông H, thiệt hại về giá trị tài sản chưa xảy ra, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có cha là người có công với Cách mạng, có nhiều thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẽ vang, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội gần 2 năm và hoàn cảnh bị cáo hiện nay khó khăn, con còn nhỏ. Do đó HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo khi quyết định hình phạt, nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với bà Đoàn Thị Kim H không biết việc bị cáo lên mạng đặt làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Vào ngày 12/01/2021 bà H đến Văn phòng Công chứng Điện Bàn ký hợp đồng ủy quyền với ông Hà Phước H là do tin tưởng chồng mình đã mượn được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng Bưu điện Liên Việt để vay tiền của ông H mà bà H không biết rằng đó là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với bà H.
Đối với Từ Thanh Tín là nhân viên giao hàng của Công ty Giao hàng Tiết Kiệm trực tiếp giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bị cáo nhưng Tín không biết bưu phẩm mà mình giao cho T là tài liệu giả nên không có cơ sở để xử lý đối với Tín.
Đối với đối tượng có tài khoản zalo Quỳnh Trang được đăng ký bởi số thuê bao 0776.289.717 là đối tượng làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giả bán cho T. Qua xác minh Công ty Dịch vụ Mobifonl khu vực 3 cung cấp chủ thê bao 0776.289.717 có tên Nguyễn Thanh Long, sinh ngày 19/8/1985, CMND số 186268015, cấp ngày 11/3/2019, địa chỉ hộ khẩu: Xã Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nhưng qua điều tra, xác minh tại địa bàn huyện Thanh Chương không có đơn vị hành chính xã Thanh Chương mà thị trấn Thanh Chương và không có người tên Nguyễn Thanh Long, sinh ngày 19/8/1985, CMND số 186268015 nên không có cơ sở xử lý.
Đối với Shop Thành Tâm có địa chỉ tại số 68 Bạch Bằng, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh có số điện thoại 0937.186.562 là đơn vị đứng ra gởi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho T. Quá trình xác minh được biết tại địa chỉ trên là tòa nhà Văn phòng cho thuê, không có cơ sở nào có tên là “shop Thành Tâm”. Cơ quan CSĐT đã gửi yêu cầu Công ty dịch vụ Mobifone khu vực 3 cung cấp dữ liệu thuê bao của số điện thoại trên nhưng chưa có văn bản trả lời. Khi nào có kết quả sẽ tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ vật chứng như sau:
- 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đoàn Thị Kim H; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hà Phước H; 01 Sổ hộ khẩu do ông Hà Phước Nh đứng tên chủ hộ; 01 Sổ hộ khẩu do ông Đoàn Đ đứng tên chủ hộ đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Điện Bàn trao trả cho chủ sở hữu nên không xem xét.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI Y7 màu vàng - đen, bên trong có sim số 0934.748.550 của T, đây là công cụ phạm tội cần phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tịch thu, tiêu hủy 01 sim số 0934.748.550 của bị cáo T.
- Hiện nay có tạm giữ 03 Hợp đồng ủy quyền giữa bà Đoàn Thị Kim H và ông Hà Phước H; 01 Hợp đồng tín dụng số HDTD42D202000045 ngày 28/4/2020; 01 Phụ lục về lịch trả nợ gốc; 01 bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP434142; 01 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0036/2020/HĐTC/PGDDIENBAN ngày 27/4/2020; 01 Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 42D202000045/01 ngày 28/4/2020; 01 Phiếu thu tiền ngày 28/4/2020 đây là những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án là phù hợp.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phí, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hà Minh T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội: sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s, h khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hà Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp chung cho cả hai tội buộc Hà Minh T phải chấp hành là 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 05/7/2022).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI Y7 màu vàng – đen của Hà Minh T.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim số 0934.748.550 của Hà Minh T.
(vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2021).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Hà Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo và người tham gia tố tụng khác có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên TAND tỉnh Quảng Nam để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa gửi đến./.
| Nơi nhận: - Những người TGTT; - VKS, THA; - Công an Điện Bàn; - Tòa án Tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Nhung |