- Tranh chấp gì? án hình sự — ""Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Huy T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNQUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HSST Ngày: 31/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hạnh
Bà Đặng Thị Cẩm Thúy
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Hùng Cường- Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2022/HSST ngày 05/04/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST- HS ngày 13/04/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2022/HSST-QĐ ngày 28/4/2022; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 11/TB-TA ngày 09/5/2022 đối với bị cáo:
Phan Huy T, sinh năm 1988; Đăng ký HKTT: số 5/32 N H, phường Đ C, quận B Đ, thành phố H N; Chỗ ở: P1B10 Tập thể T L 1, phường N K, quận B Đ, Thành phố H N; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phan Tiến G và con bà Lê Thị P. Nhân thân: Ngày 27/8/2008, CAP N H, quận B Đ, TP. H N xử phạt hành chính về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Đã xóa). Ngày 30/5/2017, TAND quận N T L, TP. H N xử phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Ra trại ngày 28/4/2019, đã xóa án tích); Tiền án: 01 (Một) tiền án. Ngày 30/3/2012, TAND huyện T L, TP. H N xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Ra trại ngày 12/9/2016) (Chưa xóa án tích); Danh bản, chỉ bản số 23 do Công an quận C G lập ngày 27/12/2021; Bị bắt quả tang ngày 19/12/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h10' ngày 19 tháng 12 năm 2021, tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy – Công an quận C G làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 127 X , D V H, C G, H N phát hiện bắt quả tang Phan Huy T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra T thả từ trong lòng bàn tay phải 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng xuống đất cạnh nơi T đứng nhưng đã bị tổ công tác phát hiện thu giữ. Kiểm tra bên trong có 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ T khai tinh thể màu trắng trên là ma túy “đá” của T mang đi bán kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong số tang vật và đưa T về trụ sở làm việc (BL28-29).
Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ của Tú 01 ĐTDĐ Sony Xperia màu đen lắp sim 0862482625 (BL38)
Kết luận giám định số 9605 ngày 26/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. H N kkết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon có khối lượng: 4,889gam là ma túy loại Methamphetamin (BL36).
Tại cơ quan Công an, Phan Huy T khai nhận: Khoảng 13h30' ngày 19/12/2021, T đang ở phố Đ T, B Đ, H N thì nhận được điện thoại của một người phụ nữ tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi từ số 0568023180 vào số 0862482625 của T để hỏi mua hộp 5 ma túy đá, T báo giá 2.000.000đ. N đồng ý và hẹn T mang ma túy đến ngõ 127 X T, C G, H N bán cho N. Sau đó T đi bộ đến số 409 K M, H N tìm mua ma túy đá. Tại đây, T gặp một người phụ nữ tên T khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m56 dáng người gầy, mặc quần áo lụa màu vàng và hỏi mua của T 01 túi ma túy đá với giá 1.000.000 đồng, mua xong T cất số ma túy trên vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng cầm trong tay phải rồi đi bộ về số 114 đường B. Tại đây, T đặt xe taxi qua ứng dụng bee đi đến ngõ 127 X T, C G, H N để đến điểm chỗ hẹn N. Đến khoảng 15h10' cùng ngày, Khi T đến gặp N để bán ma túy thì bị lực lượng Công an bắt giữ như trên. Quá trình kiểm tra T đã thả từ trong tay phải xuống đất cạnh chỗ đứng 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có túi nilon trắng chứa ma túy đá, nhưng lượng Công an phát hiện thu giữ. Nếu bán trót lọt số ma túy trên, T được hưởng lợi 1.000.000đ (BL64-79)
Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Phan Huy T cho kết quả dương tính với que thử (BL80).
Khám xét nơi ở của T tại địa chỉ P1B10 tập thể T L 1, N K, B Đ, H N, cơ quan Công an không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án (BL25).
Đối với chiếc điện thoại thu giữ của T, T khai dùng để liên lạc giao dịch mua bán ma túy với người mua ma túy.
Đối với đối tượng N sử dụng số điện thoại 0568023180 để liên lạc mua ma túy của T, quá trình điều tra Cơ quan điều tra tra cứu thông tin chủ thuê bao nhưng hiện số thuê bao trên chưa đăng ký thông tin. Do T không biết nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với đối tượng T, là người bán ma túy cho T, do T không biết nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Cáo trạng số 53/CT-VKSCG ngày 30/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận C G truy tố Phan Huy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C G giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Huy T, xử phạt bị cáo T mức án từ 05 năm 06 tháng (Năm năm sáu tháng) đến 06 (Sáu) năm tù. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tang vật áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa số ma tuý còn lại sau giám định có chữ ký của bị can Phan Huy T và giám định viên.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Sony Xperia màu đen, bên trong có sim (không xác định được số sim)
Về dân sự: Không.
Tại phiên toà: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Phan Huy T trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận C G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận C G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 19/12/2021, tại địa chỉ: đầu ngõ 127 X T, D V H, quận C G, H N phát hiện bắt quả tang Phan Huy T có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra T thả từ trong lòng bàn tay phải 01(Một) vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng xuống đất cạnh nơi T đứng nhưng đã bị tổ công tác phát hiện thu giữ. Kiểm tra bên trong có 01(Một) túi nilong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ T khai tinh thể màu trắng trên là ma túy “đá” của T mang đi bán kiếm lời. Tại phiên tòa T khai mua số ma túy trên với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) rồi sẽ bán lại với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), thu lợi bất chính 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Tuy nhiên chưa kịp hưởng lợi thì đã bị bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận C G là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nhận xét về nhân thân và lượng hình đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý. Bởi vì, ma tuý là một hiểm hoạ của nhân loại, đồng thời ma tuý cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 (Một) tiền án 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xoá án tích. Cụ thể là ngày 30/3/2012, TAND huyện T L, TP. H N xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo ra trại ngày 12/9/2016, tính tới thời điểm phạm tội của bản án số 113/2017/HSST ngày 30.5.2017 (Ngày 07.02.2017) thì bị cáo chưa được xóa án tích của Bản án số 58/2012/HSST ngày 13/3/2012 của TAND huyện T L, TP.H N, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Ra trại ngày 12/9/2016). Vì vậy, phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét nhận thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa số ma tuý còn lại sau giám định có chữ ký của bị can Phan Huy T và giám định viên;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Sony Xperia màu đen, bên trong có sim (Không xác định được số sim).
Về dân sự: Không.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Huy T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Huy T 06 (Sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2021.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa số ma tuý còn lại sau giám định có chữ ký của bị can Phan Huy T và giám định viên;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Sony Xperia màu đen, bên trong có sim (không xác định được số sim)
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 148/GN/THA-CA ngày 30/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận C G, thành phố H N)
3. Về dân sự: Không.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Phan Huy T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dânTP. Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp TP. Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; người tham gia tố tụng. - Lưu Hồ sơ, lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hằng |