vanban.org

Bản án 108/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 17/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“

Xử phạt bị cáo Phùng Đức T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Đức T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108 /2022/HS-ST
Ngày 17 tháng 11 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Huy; Ông Lê Văn Hoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Đỗ Xuân Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

PHÙNG ĐỨC T, sinh năm 1986 tại huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn YK, xã PS, huyện Ba Vì, TP Hà Nội ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phùng Đức M3, sinh năm 1963, con bà Trần Thị H3, sinh năm 1965; Vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, Con có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/8/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn YK, xã PS, huyện Ba Vì, TP Hà Nội

2/Anh Nguyễn Duy D, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn TĐ, huyện Ba Vì, TP Hà Nội.

Chị H có mặt, anh D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 ngày 24/8/2022 khi T đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số 0924202512 của Nguyễn DUy D gọi mua 500.000đ tiền ma túy đá. Do đang có sẵn ma túy nên T đã đồng ý và hẹn Dũng đến bãi cát gần nhà T ở thôn YK, xã PS, huyện Ba Vì để giao dịch. Khoảng 5 phút sau thì Dũng gọi điện báo đã đến nơi hẹn, T bảo Dũng đợi một lát. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS 29V1 – 43639 mang theo ma túy đá đựng trong ống hút bằng nhựa kín hai đầu, bên ngoài cuốn băng dính màu đen, bọc ngoài cùng bằng miếng giấy ăn màu trắng (T để ở trong túi quần đằng trước bên phải) đến gặp Dũng. Khi đến điểm hẹn, T thấy có 01 chiếc xe taxi dừng đỗ, T đi xe máy đến gần xe taxi thì Dũng bảo đến đầu xe taxi. Khi đến đầu xe taxi, T dùng tay phải lấy từ trong túi quần phía trước bên phải ra 01 gói ma túy để bán cho Dũng. Đúng lúc này có lực lượng công an đến yêu cầu kiểm tra. Do hoảng sợ, T bỏ chạy và làm rơi gói ma túy xuống bãi cỏ ven đường. Khi chạy được khoảng 30m thì T bị lực lượng công an khống chế. Lực lượng công an tiến hành kiểm tra xung quanh thì phát hiện cách vị trí của T khoảng 10m có 01 gói ma túy của T nên trên. Lực lượng công an đã tiến hành lập biên bản quả tang và thu giữ tang vật gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29V1 – 43639; 01 gói ma túy; 01 điện thoại di động màu nhãn hiệu Iphone màu Gold thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Dũng; số tiền 700.000đ thu giữ của Dũng.

Tại kết luận giám định số 6004 ngày 03/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong ống hút nhựa hàn kín hai đầu được bọc ngoài băng kính màu đen là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,201 gam”

Về nguồn gốc số ma túy là do T mua được của một người đàn ông không quen biết ở khu vự cầu Trung Hà ngày 20/8/2022 giá 300.000đ, sau khi mua được ma túy, T đã sử dụng một phần, số còn lại khi Dũng hỏi mua thì T đã bán cho Dũng.

Đối với Nguyễn DUy D, mục đích mua ma túy về để sử dụng, nhưng chưa mua được ma túy thì bị bắt quả tang. Quá trình kiểm tra nước tiểu của Dũng cho kết quả dương với ma túy. Do vậy CQĐT đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Dũng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS 29V1 – 436.39 quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị H (là vợ Phùng Đức T). Việc T lấy xe máy đi bán ma túy ngày 24/8/2022 chị H không biết, sau khi tra cứu chiếc xe không phải là vật chứng của vụ án nào nên CQĐT đã trả lại chiếc xe trên cho chị H. Các vật chứng khác cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì bảo quản để chờ xử lý theo pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS ngày 03/11/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã truy tố bị cáo Phùng Đức T về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Đức T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Phùng Đức T từ 30 đến 36 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an TP Hà Nội hoàn trả sau giám định; Tịch thu phát mại xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu Gold thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Dũng là điện thoại T và Dũng sử dụng liên lạc mua bán ma túy; Trong số tiền thu giữ của Nguyễn DUy D: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000đ Dũng sử dụng để mua ma túy, trả lại cho Dũng 200.000 là tiền riêng của Dũng, không liên quan đến vụ án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/8/2022 do muốn có ma túy để sử dụng nên Nguyễn DUy D đã gọi điện hỏi mua 01 gói ma túy giá 500.000đ của Phùng Đức T, T đã hẹn Dũng đến khu vực ngã 3 liên thôn thuộc thôn YK, xã PS, huyện Ba Vì để giao dịch mua bán ma túy. Khi Dũng, T gặp nhau đang thực hiện giao dịch mua bán ma túy thì bị Công an huyện Ba Vì kiềm tra bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 6004 ngày 03/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong ống hút nhựa hàn kín hai đầu được bọc ngoài băng kính màu đen là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,201 gam”

Như vậy có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phùng Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, ma túy là nguyên nhân gây ra căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, là mầm mống gây ra các loại tội phạm khác. Trong khi Nhà nước và xã hội đang tích cực tuyên truyền, vận động cho mọi người hiểu về tác hại của ma tuý và tránh xa các tệ nạn ma tuý thì bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, biết về tác hại của ma tuý nhưng vẫn bất chấp, coi thường pháp luật, vẫn mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Vì vậy cần xử phạt Phùng Đức T một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình HĐXX thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong tang vật (bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy do Phòng KTHS (PC09)- Công an TP Hà Nội hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Tịch thu phát mại xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động màu nhãn hiệu Iphone màu Gold thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu giữ của Dũng là điện thoại T và Dũng sử dụng liên lạc mua bán ma túy; Trong số tiền thu giữ của Nguyễn DUy D: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000đ Dũng sử dụng để mua ma túy, trả lại cho Dũng 200.000 là tiền riêng của Dũng, không liên quan đến vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 điều Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phùng Đức T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong tang vật do phòng kỹ thuật hình sự công an TP Hà Nội hoàn trả sau giám định.

- Tịch thu phát mại xung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu gold, IMEL1 : 353890106318253, IMEL 2: 353890106073957 thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã cũ, đã qua sử dụng, thu giữ của Dũng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 /11 /2022 Công an huyện Ba Vì và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Hà Nội).

- Trong số tiền 700.000đ thu giữ của Nguyễn DUy D: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000đ; trả cho Nguyễn DUy D số tiền 200.000đ (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1052741 ngày 17/11/2022 tại kho bạc nhà nước Ba Vì)

4. Án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phùng Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 BLTTHS

Bị cáo Phùng Đức T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn DUy D có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền,nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ