- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Y - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Y phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HS-PT Ngày: 26/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Chinh.
Bà Lê Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 113/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Đỗ Thị Y do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2022/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 129/QĐXXPT-HS ngày 12/5/2022.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị Y, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1960 tại xã Nga An, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Bá Thủ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thục (đã chết); Có chồng: Nguyễn Văn Tư, sinh năm 1958; Có 03 con: Con lớn SN 1986, con nhỏ SN1998. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2021 đến ngày 17/11/2021. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nữ Hoàng - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ: Số 32, đại Lộ Lê Lợi, phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa (Có mặt).
(Theo Quyết định về việc cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, số 443/QĐ-TGPL, ngày 16/11/2021).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Không kháng cáo).
1. Bà Trần Thị Tâm - Sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Nhân Sơn, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Ngoan - Sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn 5, xã Nga Thái, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Bá Nhật - Sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Hải Tiến, xã Nga Hải, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
2. Anh Mai Văn Đỉnh - Sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn 4, xã Nga Tiến, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
3. Anh Mai Văn Thìn - Sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm Thành Hồ, xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có thêm thu nhập, Đỗ Thị Y, chủ nhà nghỉ Hải Y trong quá trình nhận khách đến nghỉ có anh Nguyễn Bá Nhật và Mai Văn Đỉnh hỏi mua dâm nên đã thỏa thuận giá mỗi lần mua dâm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Y đã gọi điện thoại cho hai người phụ nữ quen biết trước đó là Trần Thị Tâm và Nguyễn Thị Ngoan, gợi ý và thỏa thuận với Tâm, Ngoan về việc bán dâm tại nhà nghỉ Hải Y. Hai bên thống nhất khi có khách hỏi mua dâm thì Y sẽ gọi điện cho 2 chị nói “có khách nhổ tóc sâu” (nghĩa là mua dâm) và thỏa thuận số tiền người bán dâm được hưởng mỗi lượt là 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng).
Lúc 13 giờ, ngày 10/11/2021, khi Y đang ngồi tại quầy lễ tân nhà nghỉ Hải Y để đón khách đến nghỉ, thì anh Nguyễn Bá Nhật điều khiển xe mô tô đến. Sau khi cất xe xong, anh Nhật đi đến quầy lễ tân nhà nghỉ nói với Y “gọi cho một em trẻ”, Y hiểu ý nên nói “trẻ thì không có, chỗ tôi không có người trẻ đâu, chỉ có người già thôi”. Anh Nhật đồng ý đi ra chỗ bàn tiếp khách gần quầy lễ tân, ngồi chờ. Khoảng 3 phút sau, anh Mai Văn Đỉnh đi bộ đến nhà nghỉ gặp Y, nói “gọi cho một em trẻ”, Y trả lời “chỉ có người già thôi, có đi thì đi”, anh Đỉnh đồng ý. Y lấy điện thoại di động của mình (số thuê bao 0385.625.627) gọi cho Nguyễn Thị Ngoan, Trần Thị Tâm đến nhà nghỉ Hải Y bán dâm cho khách thì chị Tâm và Ngoan đồng ý. Sau khi liên lạc được với hai người bán dâm, Y nói với các anh Nhật và Đỉnh là “được rồi đấy”. Khoảng 15 phút sau, chị Tâm điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ, Y nói với anh Nhật và anh Đỉnh “nó đến rồi đấy”. Anh Nhật đưa cho Y 200.000đ, Y nói anh Nhật “vào phòng số 9” nhưng nghe không rõ nên anh Nhật cùng chị Tâm vào phòng số 08. Sau đó, chị Ngoan đến, Y nói với Đỉnh “nó đến rồi đấy”. Anh Đỉnh đưa cho Y 200.000đ rồi cùng chị Ngoan vào phòng số 07.
Đến 13 giờ 40 phút, cùng ngày trong lúc hai đôi nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn phối hợp với Công an xã Nga An kiểm tra, phát hiện tại các phòng số 07, 08 có hai đôi nam nữ, gồm: Mai Văn Đỉnh và Trần Thị Ngoan; Nguyễn Bá Nhật và Trần Thị Tâm đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục, có biểu hiện mua, bán dâm. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm, tạm giữ 02 bao cao su màu vàng nhạt, đã qua sử dụng, bên trong chứa dịch nhầy; 01 vỏ bao cao su màu đỏ, nhãn hiệu Sure, đã xé vỏ; 01 vỏ bao cao su màu vàng trắng, nhãn hiệu Vip Con Dom, đã xé vỏ; 02 bao cao su màu vàng trắng, nhãn hiệu Vip Con Dom, chưa sử dụng. Chị Trần Thị Tâm tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, gắn sim số 0373.954.874. Chị Nguyễn Thị Ngoan tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, gắn sim số 0364.938.535. Đến 14 giờ 20 phút, cùng ngày, sau khi làm việc với Cơ quan điều tra tại nhà nghỉ Hải Y do mình quản lý, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi chứa mại dâm xảy ra ngày 10/11/2021. Bị cáo Y tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số 0385.625.627 và số tiền 400.000đ.
Vật chứng vụ án: Toàn bộ vật chứng bị cáo Y, Trần Thị Tâm, Nguyễn Thị Ngoan giao nộp và Cơ quan Điều thu giữ tại nhà nghỉ Hải Y đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Trong vụ án này, Nguyễn Thị Ngoan, Trần Thị Tâm có hành vi bán dâm; Mai Văn Đỉnh và Nguyễn Bá Nhật có hành vi mua dâm, Công an huyện Nga Sơn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người trên theo đúng quy định.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 03/2022/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bị cáo Đỗ Thị Y phạm tội “Chứa mại dâm”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; Điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự (BLHS) . Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS); Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm tù; được trừ đi số ngày bị tạm giữ (từ ngày 11/11/2021 đến ngày 17/11/2021); thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/3/2022 Đỗ Thị Y có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Thống nhất với tội danh mà cấp sơ thẩm đã truy tó, xét xử. Tuy nhiên hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nặng. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo: Chồng bị cáo bị suy tim độ 4, con cái đi lấy vợ, chồng đều ở xa, bị cáo là lao động chính, đang phải nuôi chồng bị bệnh hiểm nghèo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều thành tích đóng góp cho Nhà nước cũng như địa phương. Từ đó đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 và Điều 65 BLHS giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo dduwowcjj hưởng án treo.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đề nghị giảm cho bị cáo từ 09 (Chín) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo của bị cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:
Do hám lợi bất chính, chiều ngày 10/11/2021, bị cáo Đỗ Thị Y đã sử dụng nhà nghỉ Hải Y, xã Nga An, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa do bị cáo quản lý làm địa điểm để Trần Thị Ngoan và Trần Thị Tâm thực hiện hành vi bán dâm cho Mai Văn Đỉnh và Nguyễn Bá Nhật, thu lợi bất chính 400.000đ. Lời khai của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của người liên quan; những người làm chứng về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ được cũng như các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi của bị cáo xử phạt bị cáo 5 (Năm) năm về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của BLHS là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lợi ích của cá nhân, bị cáo đã lợi dụng thân xác của những người phụ nữ khác để thu lợi bất chính. Đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, văn hóa, sức khỏe, nhân cách, đạo đức xã hội và còn là nguyên nhân làm lây lan, truyền nhiễm căn bệnh HIV/AISD.
Để đảm bảo trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, cũng là bài học để răn đen và phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thị Y:
Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội và đầu thú. Bản thân bị cáo được Thủ trưởng Trung đoàn 6 tặng Bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 1980; được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng Huân chương hạng nhì vì đã có thành tích xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ Quốc tế vẻ vang tại Lào. Mặt khác, bị cáo có bố là ông Đỗ Bá Thủ và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Thục, là người có công với cách mạng; có xác nhận của chính quyền địa phương về điều kiện hoàn cảnh gia đình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Những tình tiết giảm nhẹ nói trên cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo Đỗ Thị Y có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể:
Bản thân bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội, được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, được Thủ trưởng Trung đoàn 6 tặng Bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 1980, như vậy bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong học tập công tác, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm v khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS. Cấp sơ thẩm chưa áp dụng để xem xét khi lượng hình cho bị cáo là còn thiếu sót. Hơn nữa xét thấy bị cáo còn có “Đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt”, trình bày hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là phụ nữ, ốm đau thường xuyên phải liên tục điều trị tại bệnh viện, chồng là Nguyễn Văn Tư bị bệnh hiểm nghèo (Suy tim độ 4), không có công việc, thu nhập ổn định (Chính quyền địa phương có xác nhận và đề nghị Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân xem xét giảm hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương). Bị cáo chỉ vì cuộc sống mưu sinh và hám lời nên đã sa vào con đường phạm tội. Do đó HĐXX cần xem xét áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại điểm v khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cũng như hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy cần chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, song bị cáo phạm tội nhiều lần và hành vi có tính chất rất nghiêm trọng vậy nên không có cơ sở áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo mà cần cách ly bị cáo khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thị Y cũng như quan điểm bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa phần áp dụng điều luật và phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thị Y. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2022/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về phần áp dụng điều luật và hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Y phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s; v; x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Y 45 (Bốn lăm) tháng tù; được trừ đi thời gian tạm giữ (Từ ngày 11/11/2021 đến ngày 17/11/2021); thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Y không phải chịu án phí hình sự phúc.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND, VKSND Cấp cao HN; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Nga Sơn, Thanh Hóa; - TAND, VKSND Nga Sơn, Thanh Hóa; - Chi cục THADS Nga Sơn, Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |