- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Q tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2022/HS-PT Ngày: 21-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Chín.
Các Thẩm phán: Ông Võ Việt Minh;
Ông Nguyễn Văn Quản.
- Thư ký phiên tòa:Ông Phan Đình Phú, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21tháng9năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2022/TLPT-HS, ngày 09 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo Trần Minh Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo kháng cáo:Trần Minh Q, sinh ngày 02/9/1999 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 02, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Ph, sinh năm 1982; chưa có vợ, con.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 13/5/2020, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phongquyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 13/8/2020.
Bị cáo bị bắt giam ngày 22/11/2021, có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Hồ S, sinh năm: 1997;
Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.
2. Bà Trần Thị L, sinh năm: 2000;
Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.
3. Ông Dương Th, sinh năm: 1998;
4. Ông Trần Thanh T, sinh năm: 2003;
Cùng địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.
Những người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 12/11/2021 lực lượng chức năng kiểm tra nhà ở của ông Nguyễn Thanh Tuấn, phát hiện 03 đối tượng gồm Trần Minh Q, Hồ Sang và Dương Thuận, có biểu hiện nghi vấn. Tại chỗ ngồi của 03 đối tượng có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trong nỏ thủy tinh không có gì. Thu giữ trên tay trái của Trần Minh Q 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 03 gói nylon, gồm 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 03cm x 5,5cm; 01 gói nylon không màu được hàn kín có khóa kéo một đầu, kích thước 5,5cm x 07cm và 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 04cm x 07cm, bên trong các gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (niêm phong và định danh là mẫu M1). Tiến hành kiểm tra, khám xét người thì thu giữ bên trong túi áo khoác bên phải của Trần Minh Q đang mặc 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 01cm x 03cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (niêm phong và định danh là mẫu M2); thu giữ bên trong túi nhỏ quần Jean mà Trần Minh Q đang mặc 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 01cm x 02cm, chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (niêm phong và định danh là mẫu M3).
Tại Kết luận giám định số 1303/KLGĐ-PC09 ngày 19/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: Mẫu M1 có khối lượng 13,7629 gam là Methamphetamine, mẫu M2 có khối lượng 0,2379 gam là Methamphetamine, mẫu M3 có khối lượng 0,1373 gam là Methamphetamine;
Trần Minh Q khai: Do nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 09/11/2021 Quang đến khu vực chợ Hòa Đa thuộc xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình mua 05 gói ma túy với giá 8.000.000đồng của một người không rõ nhân thân lai lịch, để sử dụng khi có nhu cầu.
Đến khoảng 10 giờ ngày 12/11/2021, Trần Minh Q đến nhà Nguyễn Thanh Tuấn chơi. Do Nguyễn Thanh Tuấn có công việc nên một mình Quang vào phòng của Tuấn, tại đây Quang đã thấy có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy để dưới nền nhà nhưng Quang không sử dụng. Một lúc sau có Hồ Sang và Dương Thuận đến. Thấy có dụng cụ sử dụng ma túy nên Sang cầm lên và thấy còn ma túy trong nỏ thủy tinh nên Sang bật lửa đốt lên hút rồi bỏ xuống, tiếp đó Thuận cũng cầm nỏ thủy tinh lên hút rồi bỏ xuống, đến lượt Quang cầm nỏ thủy tinh lên hút một hơi hết số ma túy trong nỏ thì lực lượng chức năng đi đến kiểm tra, phát hiện bắt giữ.
Về tang vật, vật chứng của vụ án: Thu giữ một phong bì đã được niêm phong bên trong có một vỏ gói thuốc lá Jet, 03 gói nylon không màu (ký hiệu M1) đã cắt lấy mẫu và 13, 2427 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 gói nylon không màu (ký hiệu M2) đã cắt lấy mẫu và 0,1677 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 gói nylon không màu (ký hiệu M3) đã cắt lấy mẫu và 0,0645 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; số tiền 5.950.000đồng thu theo biên lai số 0001538 ngày 18/3/2022.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST, ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, quyết định:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Q 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 22/11/2021.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/5/2022 bị cáo Trần Minh Q có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 27/4/2022, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Bị cáo Trần Minh Q trình bày:Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc th ẩm, bị cáo Trần Minh Q thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Minh Q kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Trần Minh Qkhai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào ngày 12/11/2021, tại nhà ở của Nguyễn Thanh Tuấn bị cáo Trần Minh Q bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, khám xét thu giữ trên người của Trần Minh Q:
- 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 03 gói nylon gồm 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 03cm x 5,5cm; 01 gói nylon không màu được hàn kín có khóa kéo một đầu, kích thước 5,5cm x 07cm và 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 04cm x 07cm, bên trong các gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (niêm phong và định danh là mẫu M1);
- 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 01cm x 03cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (niêm phong và định danh là mẫu M2);
- 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 01cm x 02cm, chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (niêm phong và định danh là mẫu M3).
Tại Bản kết luận giám định số 1303/KLGĐ-PC09 ngày 19/11/2021của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: Chất rắn chứa trong các gói nylon là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng tổng cộng là 14,1381gam.
Bị cáo thừa nhận số ma túy bị cáo đang tàng trữ là của bị cáo mua tại xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình vào ngày 09/11/2021 với giá 8.000.000đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Đủ căn cứ theo pháp luật hình sự xác định hành vi của bị cáo Trần Minh Q cấu thành tội„Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép14,1381gamMethamphetaminenhằm mục đích sử dụng. Hành vi nêu trên của Trần Minh Q là cố ý, đã tàng trữ chất ma túy Methamphetaminemà có khối lượng 14,1381gamđược quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã xét xử đối với bị cáo Trần Minh Q là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm xem xét về nhân thânbị cáo, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báoquy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt là thỏa đáng, không nặng, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận là có căn cứ pháp luật.
Về án phí phúc thẩm:
Bị cáo Trần Minh Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào: Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
2. Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Q 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/11/2021.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ vào: Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Minh Qphải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 21/9/2022.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND, VKSND, CA, Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Những người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp; - Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Tổ HCTP, Tòa HS, HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Chín |