vanban.org

Bản án 108/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị X về việc “Ly hôn” với ông Lý Quốc H như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị X được ly hôn với ông Lý Quốc H. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị X với bị đơn ông Lý Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị X về việc “Ly hôn” với ông Lý Quốc H như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20-12-2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Sơn Tây;

2. Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 231/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị X, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ 1A, khu 1, phường N, thị xã U, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lý Quốc H, sinh năm 1986; địa chỉ: địa chỉ: tổ 1A, khu phố 1, phường N, thị xã U, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị X và ông Lý Quốc H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay phường) N, thị xã U, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 30/8/2019.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sự khác biệt trong giao tiếp, ứng xử dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Bà X nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và lạnh nhạt trong tình cảm nên bà X không muốn tiếp tục chung sống với ông H. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 8 năm 2022 cho đến nay từ khi vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Bà X nhận thấy vợ chồng không thể nào đoàn tụ sống chung được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Những vấn đề cụ thể bà X yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

Về quan hệ hôn nhân: Bà X yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lý Quốc H vắng mặt có văn bản trình bày: Ông H thống nhất lời trình bày của bà X về thời gian kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và quan tâm đến nhau. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thời gian gần đây do bà X mở nhiều cửa hàng làm Nail nên không có thời gian chăm lo cho gia đình. Ngoài ra, do kinh tế vợ chồng gặp khó khăn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay. Ông H muốn vợ chồng đoàn tụ nên ông H không đồng ý ly hôn với bà X.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.

Về nội dung: Bà Đặng Thị X và ông Lý Quốc H có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân bà X yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng không còn sống chung nên bà X yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ. Về con chung: không có; tài sản chung, nợ chung: Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đặng Thị X có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lý Quốc H nên đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lý Quốc H có địa chỉ tại phường N, thị xã U, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lý Quốc H đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị X và ông Lý Quốc H là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay phường) N, thị xã U, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 30/8/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà X yêu cầu ly hôn với ông H do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thương xuyên cãi vã nhau và hiện nay vợ chồng không còn sống chung. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ sống chung nên bà X yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị X phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị X về việc “Ly hôn” với ông Lý Quốc H như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị X được ly hôn với ông Lý Quốc H.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Bà Đặng Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/000xxxx, ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ