- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 108/2021/HS-ST Ngày 16-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hu .
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng;
Bà Dƣơng Thị Bạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 83/2021/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Đào, sinh ngày 21/10/2001 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi thƣờng trú: Ấp T, xã L, huy n L, tỉnh Bạc Liêu; nơi tạm trú: Số 205/2 khu phố B, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghi p: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và bà Lê Thu S, sinh năm 1971; bị cáo chƣa có chồng, con. Tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 15 tháng 6 năm 2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Tô Văn K, sinh năm 1996 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1972; nơi cƣ trú: Ấp M, xã T, huy n T, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
Ông Tô Minh B, sinh năm 1969; nơi cƣ trú: Ấp M, xã T, huy n T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bà Lê Cẩm T, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Ấp B, xã K, huy n T, thành phố Cà Mau. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Tô Cẩm H, sinh ngày 17/6/2017. Ngƣời đại di n hợp pháp: Bà Lê Cẩm T, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Ấp B, xã K, huy n T, thành phố Cà Mau là mẹ ruột. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và bà Lê Thu S, sinh năm 1971; nơi cƣ trú: Ấp T, xã L, huy n L, tỉnh Bạc Liêu. Có mặt.
Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1994; nơi cƣ trú: Ấp T, xã L, huy n L, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ông Nông Văn P, sinh năm 1986; nơi cƣ trú: xã T, huy n T, tỉnh An Giang. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Thôn T, xã L, huy n L, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bà Phan Thị T, sinh năm 1978; nơi cƣ trú: Số 49/2B, đƣờng số 7, khu phố 5, phƣờng T, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
Phạm Thị Ngọc H.
Lê Tấn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Hồng Đchƣa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/10/2019, Nguyễn Hồng Đ điều khiển xe mô tô biển số 67C1 - 646.58 chở theo sau bà Nguyễn Thị Hồng Ng lƣu thông trên đƣờng ĐT 743 hƣớng từ ngã 6 An Phú về Miếu C, T, Bình Dƣơng. Khi lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố B, phƣờng P, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng thì Đ cho xe mô tô chuyển hƣớng rẽ trái sang đƣờng, không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn dẫn đến va quẹt phần tay cầm xe bên phải của xe Đ với tay cầm xe bên phải của xe mô tô biển số 69N1 - 414.85 do ông Tô Văn K điều khiển đang lƣu thông ở phần đƣờng xe mô tô ông K điều khiển theo hƣớng ngƣợc lại từ miếu C về ngã sáu P, làm ông K té ngã sang trái xuống phần đƣờng xe ô tô (theo hƣớng lƣu thông của xe ông K). Cùng lúc này có xe ô tô biển số 51G - 062.25 do bà Phan Thị T điều khiển trên làn đƣờng xe ô tô từ phía sau chạy tới (cùng hƣớng lƣu thông xe ông K) cán vào ngƣời ông K. Hậu quả, ông K tử vong sau cấp cứu.
Sau tai nạn hi n trƣờng để lại nhƣ sau:
Hi n trƣờng là trên đƣờng ĐT 743B, trải nhựa phẳng, thẳng, rộng 15 mét. Ở giữa có hai vạch kẻ đƣờng liền nét chia đƣờng thành hai phần đƣờng xe chạy riêng bi t, ngƣợc chiều nhau. Phần đƣờng xảy ra tai nạn hƣớng từ ngã tƣ miếu C về hƣớng ngã sáu A, rộng 7,40 mét, gồm có 02 làn xe chạy, làn xe ô tô rộng 3,80 mét và làn xe mô tô rộng 3,60 mét, không có chƣớng ngại vật trên đƣờng.
- Xe mô tô biển số 69N1-414.85 ngã bên trái, đầu xe quay về hƣớng vạch kẻ đƣờng. Từ trục bánh trƣớc đo đến mép đƣờng chuẩn dài 6,50 mét; từ trục bánh sau đo đến mép đƣờng chuẩn dài 5,40 mét.
- Xe ô tô biển số 51G-062.25 dừng sát lề đƣờng chuẩn, đầu quay về hƣớng ngã sáu P, cách xe mô tô biển số 69N1-414.85, dài 25 mét.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1004/GĐPY ngày 04/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận nhƣ sau: Nguyên nhân chết của nạn nhân Tô Văn K là do: Choáng đa chấn thƣơng, chấn thƣơng sọ não, xuất huyết màng nh n, tụt hạnh nhân.
Tại Bản kết luận giám định số 363/HPL-PC09 ngày 07/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Nồng độ cồn trong máu của nạn nhân Tô Văn K là 91,38mg/100ml.
Tại Bản kết luận giám định số 189/GĐCH-PC09 ngày 25/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận nhƣ sau: Không phát hi n dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 69N1-414.85 và xe ô tô con biển số 51G-062.25.
Sau tai nạn, Nguyễn Hồng Đ đã mang xe mô tô biển số 67C1 - 646.58 rời khỏi hi n trƣờng và sửa chữa nên không thể thu thập dấu vết trên phƣơng ti n.
Tại bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 2481/C09B ngày 19/5/2020 của Phân vi n khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định, tháng 05 năm 2020, Nguyễn Hồng Đ có độ tuổi từ 18 năm đến 18 năm 06 tháng.
Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKS-TA ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nhƣ cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Đ mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hƣởng án treo.
Về trách nhi m dân sự: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ đã bồi thƣờng cho ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại Tô Văn K số tiền 35.000.000 đồng, tại phiên tòa ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại Tô Văn K là bà Nguyễn Thị K yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý và đã thanh toán đƣợc 10.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng. Ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại Tô Văn K là bà Nguyễn Thị K đồng ý và không yêu cầu gì thêm.
Qua điều tra xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn, bà Phan Thị T điều khiển xe ô tô biển số 51G - 062.25 lƣu thông trên phần đƣờng và làn đƣờng đúng quy định. Khi xe mô tô của Nguyễn Hồng Đ rẽ trái sang đƣờng không quan sát gây va quẹt với xe mô tô của ông Tô Văn K làm ông K té ngã xuống phần đƣờng xe ô tô ngay lúc xe bà T đang lƣu thông từ phía sau đến gây ra tai nạn là sự ki n bất ngờ không phòng tránh kịp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý bà T là có căn cứ.
Về vật chứng:
+ Đối với xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 quá trình điều tra xác định do ông Nông Văn P đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, ngày 31/10/2019, trong lúc ông P đi làm, Đ có đến nhà trọ của ông P, gặp bà Nguyễn Kim N là chị ruột của Đ và đang chung sống nhƣ vợ chồng với ông Nông Văn P, để mƣợn xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 đi làm. Bà N tự ý giao xe cho Đ mƣợn nhƣng không hỏi ý kiến của ông P. Ông P qua làm vi c cũng không có yêu cầu gì nên xét thấy xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 là tài sản thuộc sở hữu của ông P nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông P là có căn cứ. Vi c bà N giao xe cho Đ mƣợn sử dụng, về mặt ý thức bà không biết rõ Đ không có giấy phép lái xe theo quy định nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
+ Đối với xe ô tô con biển số 51G - 062.25 do bà Phan Thị T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, xác định đây là tài sản hợp pháp của bà T nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà T là có căn cứ.
+ Đối với xe mô tô biển số 69N1 - 414.85 do ông Tô Văn K đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, xác định đây là tài sản hợp pháp của ông K nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị K là mẹ của ông K và là ngƣời đại di n hợp pháp của ông K, là có căn cứ.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị K, ông Tô Minh B, bà Lê Cẩm T có lời khai phù hợp với nhau cùng thống nhất theo ý kiến, yêu cầu của bà Nguyễn Thị K và thống nhất theo quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thu S, bà Nguyễn Kim N, ông Nông Văn P, bà Nguyễn Thị Hồng NG, bà Phan Thị T có lời khai phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, các ông bà không có yêu cầu gì đối với vụ án và thống nhất theo quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Vi n kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc vi c truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hi n đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hi n là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hồng Đ đã khai nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ nhƣ Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/10/2019, Nguyễn Hồng Đ không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định của Luật giao thông đƣờng bộ đã điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 chở theo sau bà Nguyễn Thị Hồng NG, lƣu thông trên đƣờng ĐT743, đoạn thuộc khu phố B, phƣờng P, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng thì chuyển hƣớng rẽ trái, không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 69N1 - 414.85 trên phần đƣờng xe mô tô do ông Tô Văn K điều khiển theo chiều đi ngƣợc lại, làm ông K té ngã sang trái (hƣớng lƣu thông của ông K) cùng lúc này có xe ô tô biển số 51G - 062.25 do bà Phan Thị T điều khiển từ phía sau chạy tới (cùng hƣớng lƣu thông xe ông K) cán vào ngƣời ông K. Hậu quả, ông K tử vong sau cấp cứu. Do đó, cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, vô ý gây thi t hại cho tính mạng của ngƣời khác. Tình hình tai nạn giao thông ngày càng gia tăng nhƣ hi n nay phần lớn là do ý thức không tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông đƣờng bộ tƣơng tự nhƣ bị cáo. Do đó, cần có mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn di n về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại đồng thời ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phƣơng. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, sau khi phạm tội đã thể hi n sự ăn năn, hối cải, phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo, vi c không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm nên không cần cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tạo điều ki n để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định pháp luật. Mặt khác, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo không có vi phạm pháp luật lần nào khác; bị cáo có gia đình và nơi cƣ trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo mình, vi c không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không ảnh hƣởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung nên không cần cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo đƣợc miễn chấp hành hình phạt tù có điều ki n, tạo điều ki n để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.
Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự mà đại di n Vi n kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 quá trình điều tra xác định do ông Nông Văn P đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, ngày 31/10/2019, trong lúc ông P đi làm, Đ có đến nhà trọ của ông P, gặp bà Nguyễn Kim N là chị ruột của Đ và đang chung sống nhƣ vợ chồng với ông Nông Văn P, để mƣợn xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 đi làm. Bà N tự ý giao xe cho Đ mƣợn nhƣng không hỏi ý kiến của ông P. Ông P qua làm vi c cũng không có yêu cầu gì nên xét thấy xe mô tô hai bánh biển số 67C1-645.58 là tài sản thuộc sở hữu của ông P nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông P là có căn cứ. Vi c bà N giao xe cho Đ mƣợn sử dụng, về mặt ý thức bà không biết rõ Đ không có giấy phép lái xe theo quy định nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
+ Đối với xe ô tô con biển số 51G - 062.25 do bà Phan Thị T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, xác định đây là tài sản hợp pháp của bà T nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà T là có căn cứ.
+ Đối với xe mô tô biển số 69N1 - 414.85 do ông Tô Văn K đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, xác định đây là tài sản hợp pháp của ông K nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị K là mẹ của ông K và là ngƣời đại di n hợp pháp của ông K là có căn cứ.
Về trách nhi m dân sự:
Bị cáo đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại Tô Văn K số tiền 35.000.000 đồng, tại phiên tòa ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại Tô Văn K là bà Nguyễn Thị K yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý và đã thanh toán đƣợc 10.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng. Ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại Tô Văn K là bà Nguyễn Thị K đồng ý và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với số tiền mà bà Phan Thị T đã hỗ trợ cho gia đình bị hại là 50.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị T không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 584, Điều 585 và Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
1. Về trách nhi m hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ 03 (ba) năm tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án ngày 16 tháng 4 năm 2021.
Giao bị cáo Nguyễn Hồng Đ cho Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về trách nhi m dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng Đ phải bồi thƣờng cho ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại Tô Văn K số tiền còn lại là 10.000.000 đồng (mƣời tri u đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo; ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại di n hợp pháp của bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.
Trƣờng hợp bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hi u thi hành án đƣợc thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |