- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2021/HS-ST Ngày: 21 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chung Kim Sang
Bà Trần Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/TLST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 29/8/1994; tại thành phố G, Kiên Giang.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số 9/3 đường V, khu phố 2, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành C và bà Trần Thị N; chị ruột 01 người sinh năm 1993.
Tiền sự: Chưa
Tiền án: Chưa
Nhân thân: Ngày 11/10/2010 bị đưa vào trường giáo dưỡng số 5, về hành vi gây rối trật tự công cộng, thời hạn 12 tháng (theo quyết định số 1569/QĐ-UB-NC ngày 06/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang), đến ngày 11/10/2011 chấp hành xong, đã xóa tiền sự.
Ngày 14/02/2021, bị cáo có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Minh N1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số, đường K, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Nguyễn Khắc G, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 13 đường T, khu phố 2, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối năm 2018, Nguyễn Thanh T có quen biết ngoài xã hội với người đàn ông tên Đ (không rõ tên thật, địa chỉ cụ thể), cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh, thời gian này giữa T và Đ có cùng nhau sử dụng ma túy chung, sau đó T về địa bàn thành phố Rạch Giá để làm thuê. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/02/2021, Đ từ Thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố Rạch Giá gặp T, cả hai cùng sử dụng ma túy đá ở sau nhà của T tại địa chỉ số 9/3 đường V, phường L, thành phố G, sau đó T hỏi mua của Đ 500.000 đồng ma túy đá, Đạt đồng ý, T đưa 500.000 đồng và Đạt đưa cho T 01 (một) bịch ma túy đá, khi nhận được ma túy thì T bỏ vào túi quần tây phía trước, bên phải đang mặc. Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 14/02/2021, T đi đến nhà của người bạn tên Nguyễn Minh N1, địa chỉ nhà không số, đường K, khu phố 4, phường L, thành phố G để rủ N1 sử dụng ma túy đá, đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đến trước cửa nhà của N1 thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá kết hợp với Công an phường Vĩnh Lợi bắt quả tang, thu giữ trong túi quần tây phía trước, bên phải của T đang mặc 01 (một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất, nghi là chất ma túy (Bút lục số 14 - 19, 21, 23, 25 - 29).
Ngày 22/02/2021 Nguyễn Thanh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, tạm giam để điều tra.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Đối với người đàn ông tên Đ bán ma túy cho T chưa xác định được tên thật, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:
01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong (Theo lệnh nhập kho vật chứng số 23 ngày 25/02/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Rạch Giá) - Bút lục số 15, 16, 67.
* Tại bản kết luận giám định số: 189/KL-KTHS ngày 22/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:
Các hạt chất rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4497 gam.
Methamphethamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ (Bút lục số 34).
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
* Bản cáo trạng số: 92/CT- VKSRG ngày 10 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất kết quả giám định và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo từ khi bị bắt không có việc làm, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 189/2021 ngày 22/02/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Trương Xuân Đỡ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái và cảm thấy ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 22 giờ 40 phút ngày 14/02/2021, tại trước nhà không số, đường K, khu phố 4, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Công an thành phố Rạch Giá kết hợp với Công an phường Vĩnh Lợi, bắt quả tang Nguyễn Thanh T đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần tây phía trước, bên phải của T đang mặc 01 (một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn, màu trắng, không đồng nhất, qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4497 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Xét lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trường hợp “Heroin, cocaine, Methamphetamin, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam” thì “bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Theo đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,4497 gam đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đã viện dẫn nêu trên. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát luận tội tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo T phạm vào tội nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất về ma túy; tác hại của việc sử dụng ma túy là gây tổn hại lâu dài đến thể chất, tinh thần của con người và cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân; vì vậy nhà nước luôn chú trọng việc phòng ngừa, đấu tranh và xử lý nghiêm khắc đối với các tội phạm liên quan đến ma túy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh. Bản thân bị cáo T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được những hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra sẽ ảnh hưởng lớn đến bản thân và cộng đồng nhưng vì muốn có ma túy sử dụng, cùng với ý thức xem thường pháp luật bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo có cha ruột là thương binh hạng 2/4. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo, qua đó đảm bảo được tính phòng ngừa chung trong xã hội.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 189/2021 ngày 22/02/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Trương Xuân Đỡ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; Hội đồng xét xử thống nhất xử tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ (ngày 14/02/2021).
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 189/2021 ngày 22/02/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Trương Xuân Đỡ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 78/QĐ-VKS ngày 10/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; xử:
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/6/2021).
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND Tp. Rạch Giá; - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá; - Công An Tp. Rạch Giá; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Chung Kim Sang Trần Thị Lệ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Yến Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Kim Yến |