- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Mai Lệ h và Nguyễn Văn tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25-11-2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mến
2. Ông Hồ Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 300/2021/TLST-HNGĐ, ngày 01/10/2021, về: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 4/11/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18/11/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Mai Lệ H, sinh năm 1992. Có mặt.
Địa chỉ: Số 58 đường ĐT 766, thôn 4, xã MP, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh 1997. Vắng mặt
Địa chỉ: Số 58 đường ĐT 766, thôn Z, xã MP, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/9/2021 cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Mai Lệ H trình bày: Chị H và anh Nguyễn Văn Tr tự nguyện kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sùng Nhơn, huyện Đ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được năm đầu tiên, thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm về công việc của chị H. Từ đó, vợ chồng cãi vã, anh Tr không đồng ý cho chị H làm công việc trang điểm cô dâu, với lý do chị H phải đi làm từ đêm khuya; đôi khi anh Tr còn đánh tát tai chị H. Ngoài ra khi con cái ốm đau vợ chồng cũng phát sinh gây gỗ, cãi vã nhau. Chị H cảm nhận tình cảm vợ chồng phai nhạt, nên muốn ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Minh Tr1, sinh ngày 4/12/2018, hiện sống cùng với gia đình cha, mẹ của chị H. Chị H yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Bản thân chị H có nghề trang điểm cô dâu, uốn tóc, thu nhập bình quân từ 3 đến 4 triệu đồng 01 tháng, nếu không có dịch Covid- 19 thì thu nhập cao hơn. Anh Tr hiện làm nhiều nghề, ai thuê gì làm nấy, thu nhập không ổn định.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Tr không tham gia. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tr, trong đó có thông báo về chứng cứ và nội dung khởi kiện của nguyên đơn, nhưng Tòa án không nhận được bất cứ ý kiến gì từ anh Tr.
Qua xác minh thì được biết: Chị H và anh Tr cưới nhau năm 2018. Sau khi cưới vợ chồng sống với gia đình cha, mẹ chị H. Trong cuộc sống vợ chồng cũng bình thường, nhưng mỗi khi Tr có uống rượu, thì về nhà gây gỗ, đánh đập chị H và ăn nói bậy bạ. Gia đình có khuyên nhủ vợ chồng sống hòa thuận nhưng 02 vợ chồng không nghe. Vợ chồng H có 01 con chung, sống cùng nhà ngoại và được ông bà ngoại chăm sóc trong những ngày không đi học.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:
Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.
Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành các quy định của tố tụng.
Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn, giao con cho nguyên đơn nuôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:
Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1, Điều 35 và Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn Tr đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Võ Mai Lệ H và anh Nguyễn Văn Tr là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc. Nguyên nhân là do chị H và anh Tr không cùng quan điểm về công việc và thời gian đi làm của chị H. Do tính chất công việc của chị H là thường đi trang điểm cho các cô dâu vào đêm khuya hoặc từ 2- 3 giờ sáng, nên anh Tr không đồng ý, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Ngoài ra khi con cái đau ốm, hai vợ chồng không cùng chăm lo mà lại gây gỗ, cãi vã. Mỗi khi xảy ra mâu thuẩn anh Tr có uống rượu, làm cho mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng hơn. Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án, anh Tr không đến tham gia, nhưng Tòa án luôn động viên chị H, nên trở lại chung sống, khắc phục những mâu thuẩn để vợ chồng sống hòa thuận, nhưng chị H vẫn cương quyết ly hôn. Qua xác minh thì được biết chị H và anh Tr không có tiếng nói chung trong cuộc sống, hay xảy ra mâu thuẩn, hôn nhân không có hạnh phúc. Xét thấy hôn nhân giữa hai bên thực sự không còn hạnh phúc. Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Vợ chồng có 01 con chung, cháu Nguyễn Minh Tr1, sinh ngày 4/12/2018, hiện cháu chưa đầy 03 tuổi, hiện sống tại nhà ngoại, chị H có công việc, tuy thu nhập không cao nhưng cũng đủ khả năng nuôi con. Còn anh Tr, không có việc làm ổn định, nên giao con cho chị H nuôi con là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Trong đơn khởi kiện chị H có yêu cầu anh Tr cấp dưỡng khi chị nuôi con, nhưng trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa chị H cho rằng hiện anh Tr chưa có công việc và thu nhập ổn định, nên chị không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị H chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Tuyên bố: Chị Võ Mai Lệ H ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.
2.Về con chung: Giao cho chị Võ Mai Lệ H được quyền trực tiếp nuôi con Nguyễn Minh Tr1, sinh ngày 4/12/2018. Anh Nguyễn Văn Tr được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trỡ.
3. Về án phí: Chị Võ Mai Lệ H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005530 ngày 01/10/2021. Chị H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/11/2021). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./-
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND huyện; -CCTHADS huyện; -Đương sự; -Lưu./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thái |