- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn Đ, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2020/HSST. Ngày: 24-9-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Vinh;
Ông Thào A Páo;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2020/HSST, ngày 10-9-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HS, ngày 14-9-2020 đối với bị cáo:
Lò Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1964; tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn K (Đã chết) và bà Bạc Thị P ( đã chết); bị cáo có vợ: Trần Thị D; sinh năm 1965 ( đã ly hôn) và 02 con, lớn 34 tuổi, nhỏ 31 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 18-01-2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 ( mười lăm) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 ( ba mươi) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy; năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 26 ( hai mươi sáu) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 ( ba mươi) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt giam giữ kể từ ngày 08-6-2020, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ, ngày 08-6-2020, tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Tiểu khu C, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Lò Văn Đ, trú tại: Tiểu khu C, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
- 01 gói giấy màu trắng có chữ in màu đen, bên trong có chứa một ít bột cục màu trắng nghi là Heroine ( Lò Văn Đ khai là Heroine), có khối lượng 0,24 gam, trích rút toàn bộ 0,24 gam ký hiệu Đ1 làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy.
Kết luận giám định số: 973, ngày 16-6-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1 là chất ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,24 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam loại Heroine”. ( Hoàn lại mẫu gửi giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1 không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,11 gam).
Tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 08-6-2020, Lò Văn Đ đi bộ một mình từ nhà ở Tiểu khu C, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La lên tiểu khu V, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi Lò Văn Đ gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái ( Lò Văn Đ không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy được gói bằng giấy có chữ in màu đen với giá 50.000đ. Mua được ma túy, Lò Văn Đ cho vào túi áo đằng trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà.
Khi đến khu vực Tiểu khu C, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thi gặp tổ Công tác Công an thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Lò Văn Đ có hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng như đã nêu.
Bản cáo trạng số: 115/CT-VKS, ngày 09-9-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn Đ về điểm, điều, khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ mức án từ 24 ( hai mươi bốn) tháng đến 30 ( ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-6-2020.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn Đ.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine ký hiệu Đ1 + một mảnh giấy màu trắng chữ in màu đen + một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Bị cáo phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo Lò Văn Đ: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
. Ngày 08-6-2020, Lò Văn Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,24 gam ma túy, loại chất Heroine. Mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Lò Văn Đ với khối lượng không lớn, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lây lan phát sinh các tệ nạn ma tuý và những tệ nạn xã hội khác, là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn Đ có một tiền án chưa được xóa án tích là tái phạm được quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự và là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Lò Văn Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có ba tiền án về tội ma túy, tuy đã được đương nhiên xóa án tích nhưng vẫn bị coi là nhân thân xấu.
Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật. Cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội.
Bị cáo Lò Văn Đ đang bị tạm giam, tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập. Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy Lò Văn Đ khai mua của một nam thanh niên dân tộc Thái (Lò Văn Đ không biết họ tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) tại tiểu khu 4, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 08-6-2020 với giá 50.000đ. Do chỉ có lời khai duy nhất của Lò Văn Đ, ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xử lý.
. Về vật chứng vụ án: Đối với 0,11 gam Heroine ký hiệu Đ1 Nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 mảnh giấy màu trắng + 01 ( một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Xét không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo Lò Văn Đ phải chịu án phí Hình sợ sơ thẩm theo quy định. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-6-2020 ( là ngày bắt giam giữ đối với bị cáo).
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiêu hủy:
Một phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 08-6-2020. Mặt sau phong bì dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số 023928, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ các chữ ký, họ tên giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong và hai dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu. Bên trong có một mảnh giấy màu trắng chữ in màu đen + một vỏ phong bì đã bóc mở niêm phong vật chứng ban đầu.
Một phong bì niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 08-6-2020, xảy ra tại thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La gồm có: 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở niêm phong và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi gián định ký hiệu Đ1 = 0,11 gam. Mặt sau dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 000394 đè lên các mép dán của phong bì.
3.Về Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lò Văn Đ phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND ( 02 ); - Sở tư pháp tỉnh; - CA huyện; - THA hình sự; - Chi cục THADS; - Trại giam; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lường Thị Hương |