- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN tØnh BẮC GIANG B¶n ¸n sè: 108/2020/HSST Ngµy 29/12/2020. Nh©n danh nƯíc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
*ThÈm ph¸n – Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
*C¸c Héi thÈm nh©n d©n: - 1. Ông Trần Đăng Thanh.
-2. Ông Vũ Ngọc Côn.
* Thư ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Bµ Vũ Thị Thu Trang - C¸n bé Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Lôc Ng¹n.
*§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Lôc Ng¹n tham gia phiªn toµ:
Ông Trần Quang Ninh - KiÓm s¸t viªn.
Ngµy 29 th¸ng 12 n¨m 2020 t¹i Trụ sở Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Lôc Ng¹n xÐt xö sơ thẩm công khai vụ án hình sự s¬ thÈm thô lý sè: 107/2020/HSST ngµy 27 th¸ng 11 n¨m 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2020/QĐXXST - HS ngµy 15 th¸ng 12 n¨m 2020 ®èi víi bÞ c¸o:
Họ và tên: Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1987. HKTT: thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Văn S, sinh năm 1953 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956. Hiê ̣n làm ruộng tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1989 (Đã ly hôn năm 2018).
Con: Có 01 con là Nguyễn Huy H2, sinh năm 2010.
Tiền sự, tiền án: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ 15/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
Đoàn Hoài B - Sinh năm 1974 ( Vắng mặt). Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
Chị Vi Lương N - Sinh năm 1983 ( Vắng mặt ). Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/11/2020, Nguyễn Văn H đi bộ từ nhà ra đường rồi đi nhờ xe mô tô của một người lạ mặt không quen biết ra thị trấn C, huyện L với mục đích mua ma túy Heroin về để sử dụng. Khi ra đến thị trấn C, huyện L thì H xuống xe và đi bộ vào khu đường mớ i thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L. Tại đây H gặp một người đàn ông khoảng 35 đến 36 tuổi, tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua của T 200.000 đồng, được 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc trên người rồi đi bộ về nhà. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi về đến đoa ̣n đườ n g thuô ̣c tổ dân phố T , thị trấn C, huyện L thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Lục Ngạn phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin. Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong vào phong bì dán kin bên ngoài ký hiệu “QT”, sau đó
́ đưa Nguyễn Văn H cùng tang vật và mời ngườ i chứ ng kiến, những người liên quan về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vâ ̣t nghi là ma túy đa đượ̃
c niêm phong trong bi thư ký
̀ hiê ̣u “QT”.
Cùng ngày 15/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 16/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng được niêm phong trong bì thư dán kín có ký hiệu “QT”. Tại Bản kết luận số 1665/KL-KTHS ngày 17/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,296gam, loại Heroin”.
Lời khai nhận của H phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số: 102/CT- VKS - HS ngày 27 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
- ¸p dông điểm c kho¶n 1 §iÒu 249; điểm s kho¶n 1 §iÒu 51; §iÒu 38 Bé luËt h×nh sù;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/11/2020.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội không vì mục đích hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “QT” do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định.
* ¸n phÝ: ¸p dông §iÒu 135,136 Bé luËt tè tông h×nh sù 2015. c¸c ®iÒu 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1 ] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Ngạn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2 ] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Văn H, là đối tượng nghiện ma túy. Buổi tối ngày 15/11/2020, tại khu vực đường mới thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, H đa mua 200.000 đồng được 01 gói ma túy Heroin,̃ có khối lượng 0,296gam với mục đích mang về để sử dụng. Trên đườ ng về đến tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L thì bị Tổ công tác Công an huyện Lục Ngạn phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3 Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ra những tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội như gây mất trật tự trị an, lµ nguyªn nh©n phát sinh c¸c lo¹i téi ph¹m kh¸c, gây bất bình và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung với loại tội phạm này.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.
Nhưng để đẩm bảo tính răng đe giáo dục và phòng ngừa chung, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và cao hơn mức khởi điểm mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội không vì mục đích hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ số ma túy nêu trên là do Hưởng mua của người đàn ông tên T, khoảng 35 đến 36 tuổi nhưng không biết địa chỉ, nhân thân, lai lịch của người này. Do quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người đã bán ma túy cho H nên không có căn cứ để xử lý. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét xử lý.
Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào điểm c kho¶n 1 §iÒu 249; điểm s kho¶n 1 §iÒu 51; §iÒu 38 Bé luËt h×nh sù;
Tuyªn bè bị cáo Nguyễn Văn H ph¹m téi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xö ph¹t: Nguyễn Văn H 18 ( mười tám ) tháng tï, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy tạm giữ, tạm giam 15/11/2020.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “QT” do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định.
* ¸n phÝ: ¸p dông §iÒu 135, 136 Bé luËt tè tông h×nh sù 2015. c¸c ®iÒu 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
BÞ c¸o Nguyễn Văn H ph¶i chÞu 200.000 ®ồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
B¸o cho bÞ c¸o có mÆt biÕt ®ưîc quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
N¬i nhËn:
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND huyÖn Lôc Ng¹n;
| - C«ng an huyÖn Lôc Ng¹n; - TAND TØnh B¾c Giang; - THADS huyÖn lôc ng¹n; - BÞ c¸o; - Lưu hå sơ, v¨n phßng. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |