- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2020/HS-ST Ngày: 21-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thiện Lợi
2. Bà Đặng Thị Việt Hoài
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2020/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2020/QĐXXST-HS ngày 10/8/2020 đối với bị cáo:
Bùi Xuân L; giới tính: Nam; sinh ngày 08/7/1987; nơi cư trú: Thôn C, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn (văn hóa): 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Xuân T và con bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con. Tiền án: - Bản án số 34/HSST/2016 ngày 23/02/2016, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2018. Tiền sự: Không. Nhân thân: - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07 - QĐ/XPVPHC ngày 20/9/2005 của Công an thành phố Thái Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. - Bản án số 175/2005/HSST ngày 29/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử Bùi Xuân L 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 29/6/2007. - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 107 QĐ/XPVPHC ngày 09/5/2008 của Công an phường X, thành phố T xử phạt Bùi Xuân L bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 09/6/2008 của Công an phường K, thành phố T xử phạt Bùi Xuân L bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. - Bản án số 138/2008/HSST ngày 27/10/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt Bùi Xuân L 30 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 05/7/2008 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2010, chấp hành xong phần án phí ngày 05/3/2009.
- Quyết định số 2056/QĐ-UBND ngày 13/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội thành phố T đối với Bùi Xuân L thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 24/6/2011. - Quyết định số 966/QĐ-UBND ngày 17/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc đưa vào cơ sở giáo dục đối với Bùi Xuân L thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/5/2020 đến ngày 19/5/2020 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo bị trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Vũ Duy Đ, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Đ, xã B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Người chứng kiến:
1. Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 10, tổ 02, phường X, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 100, tổ 03, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/5/2020, bị cáo Bùi Xuân L điều khiển xe máy nhãn hiệu Loncin, màu xanh - đen, biển số đăng ký 17F7 - 4903 từ nhà đến khu vực đường V, tổ 17, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây, bị cáo L gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy giá 400.000 đồng, mỗi gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Sau khi mua được số ma túy, bị cáo L cầm ở tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi bị cáo L đi đến khu vực đường V, tổ 16, phường K, thành phố T thì tổ công tác Công an thành phố T yêu cầu kiểm tra do nghi có liên quan đến ma túy. Trước sự chứng kiến của anh Dương Ngọc H và anh Nguyễn Văn T, bị cáo L tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1970 gam. Sau đó, tổ công tác yêu cầu bị cáo L, mời hai người chứng kiến trên và đưa xe máy của bị cáo L về trụ sở Công an phường K, thành phố T để làm việc. Tại đây, kiểm tra thu trong túi quần bên trái của bị cáo L 01 điện thoại Nokia 2700 màu đen trắng, thu tại túi quần hậu bên phải của bị cáo L số tiền 126.000 đồng. Kiểm tra xe máy do bị cáo L điều khiển không phát hiện, thu giữ gì. Công an thành phố T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 162/KLGĐ-PC09, ngày 17/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi “Vật chứng thu giữ của Bùi Xuân L, sinh năm 1987, ĐKHKTT tại thôn C, xã P, thành phố T ngày 16/5/2020” là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1970 gam (Không phẩy một nghìn chín trăm bảy mươi gam).
Cáo trạng số 112/CT-VKSTPTB ngày 06/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Xuân L về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định.
+ Trả lại bị cáo Bùi Xuân L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Loncin, màu xanh
- đen, biển số đăng ký 17F7 - 4903; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2700, màu đen- trắng và số tiền 126.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ điều 331, điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình; của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Bùi Xuân L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố T lập hồi 21 giờ 10 phút ngày 16/5/2020 tại trụ sở Công an phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (bút lục số 03 đến 04); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố T lập tại trụ sở Công an phường K, thành phố T hồi 21 giờ 50 phút ngày 16/5/2020 (bút lục số 27); bản Kết luận giám định số 162/KLGĐ - PC09 ngày 17/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 32); lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Duy Đ (bút lục số 79, 80); lời khai của những người chứng kiến là anh Dương Ngọc H và anh Nguyễn Văn T (bút lục số 81 đến 90). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 16/5/2020, tại khu vực đường V, tổ 16, phường K, thành phố T, bị cáo Bùi Xuân L có hành vi tàng trữ trái phép 0,1970 gam ma túy, loại Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) …c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma tuý đã gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ, nhân cách và nòi giống con người, ma tuý còn gây ra biết bao hiểm hoạ nghiêm trọng khác cho xã hội, là nguồn gốc phát sinh hàng loạt các loại tội phạm, là tác nhân lan truyền đại dịch thế kỷ HIV-AIDS, là yếu tố phá vỡ hạnh phúc biết bao gia đình có người nghiện…Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội. Do bị cáo tàng trữ ma túy số lượng ít để sử dụng cho bản thân, bị cáo có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Bùi Xuân L có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo L có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị kết án, nhiều lần bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở cai nghiện. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nguồn gốc số ma tuý: Bị cáo L khai mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ tại khu vực đường V, tổ 17, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Số ma tuý thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 162/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Binh là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ vào điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Loncin, màu xanh - đen, biển số đăng ký 17F7 - 4903; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2700, màu đen- trắng và số tiền 126.000 đồng thu giữ của bị cáo L, xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên áp dụng điều 46 Bộ luật Hình sự và căn cứ vào điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 50; điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào điều 106; điều 135; điều 136; điều 331; điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 21; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2020.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 162/KLGĐ-PC09.
3.2. Trả lại bị cáo Bùi Xuân L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Loncin, màu xanh - đen, biển số đăng ký 17F7 - 4903; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2700, màu đen- trắng được niêm phong trong 01 phong bì ghi “Điện thoại quản lý của Bùi Xuân L” và số tiền 126.000 đồng nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng nêu trên Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố T ngày 06/8/2020).
4. Về án phí: Bị cáo Bùi Xuân L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bị cáo Bùi Xuân L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/8/2020; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Duy Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND TP.Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - CQĐT CATP.Thái Bình; - CQTHAHS CATP.Thái Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP.T; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hồng Thái |