vanban.org

Bản án 108/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 03/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung màu đỏ, dạng màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quý Lai - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN LÊ CHÂN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2020/HS-ST
Ngày 03-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Linh - Cán bộ Toà án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dânquận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Quý L, sinh năm 197X tại Hải Phòng; nơi cư trú: Đường T, phường M, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quý L (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Hồ Thị T; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ ngày 04/4/2020, tạm giam ngày 07/4/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 03/4/2020, Tổ công tác Công an phường Hồ Nam, quận Lê Chân, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn phường, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 170 Chùa Hàng, quận Lê Chân, Hải Phòng phát hiện Trần Quý L có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước, bên trái L đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 4cm x5cm đựng 02 túi nilon màu trắng kích thước 01cmx01cm đều chứa tinh thể màu trắng nghi ma túy đá. Ngoài ra, còn thu giữ của L 01 xe máy BKS: 15AA-017.80 và 01 điện thoại Samsung màu đỏ. Sau đó, Tổ công tác đã dẫn giải L cùng vật chứng thu giữ về trụ sở lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại Bản Kết luận giám định số 159/KLGĐ(Đ6) ngày 06/4/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon thu giữ của Trần Quý L là ma túy, có khối lượng 0,65 gam, là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Quý L khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 03/4/2020, L đi xe ôm (của một người đàn ông không quen biết) đến khu vực cổng bệnh viện Việt Tiệp để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, L bảo xe ôm chờ ở cổng chính bệnh viện trên đường Hai Bà Trưng. L đi bộ vào ngõ nhỏ đối diện khoảng 30m, gặp 01 nam giới đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai, nhận ra đã từng mua ma túy của người này nên hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá, nhưng đưa 300.000 đồng còn nợ 100.000 đồng, L bảo sẽ trả sau. Nam giới đồng ý, cầm tiền, lấy ở khe tường gần đó 01 túi nilon màu trắng trong đựng 02 túi nilon nhỏ màu trắng chứa ma túy đá đưa cho L. L cầm số ma túy vừa mua được quay lại chỗ người xe ôm đứng chờ để về. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, L đang ở nhà thì có bạn tên Toàn (không rõ L lịch) liên lạc qua mạng xã hội (không có số điện thoại) rủ đi chơi. Khi đi, L cầm theo số ma túy đã mua, để trong vỏ bao thuốc lá cất giấu ở túi quần bên trái phía trước đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân, điều khiển xe máy BKS: 15AA-017.80 đi đến chỗ hẹn. Khi L đi đến khu vực trước cửa nhà số 170 Chùa Hàng thì bị lực lượng Cong an kiểm tra, bắt giữ như trên.

Đối với nam giới bán ma túy cho L quá trình điều tra không xác định được căn cước, L lịch. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra, làm rõ.

Đối với việc L khai đây là lần thứ hai mua ma túy của nam giới này, ngoài lời khai của L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không xử lý.

Đối với người xe ôm và đối tượng tên Toàn, quá trình điều tra không xác định được căn cước L lịch nên không có cơ sở điều tra, làm rõ.

Đối với chiếc xe máy BKS: 15AA-017.80 thu giữ của L, quá trình điều tra chưa xác định được rõ nguồn gốc xe, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ, xác minh, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Trần Quý L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình vào ngày 03/4/2020 như toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Quý L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quý L mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung màu đỏ, dạng màn hình cảm ứng đã qua sử dụng;

Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ, vật chứng thu giữ, kết luận giám định thể hiện: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 03/4/2020, Trần Quý L đã có hành vi cất giữ trái phép 0,65 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân, bị cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số 170 Chùa Hàng, quận Lê Chân, Hải Phòng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quý L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố và bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện và là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các bệnh dịch nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án nên phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[5] Đối với 01 phong bì đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Đối với 01 điện thoại di động Sam sung màu đỏ, dạng màn hình cảm ứng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng;

- Các vấn đề khác của vụ án:

[7] Đối với nam giới bán ma túy cho L quá trình điều tra không xác định được căn cước, L lịch. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra, làm rõ. Hội đồng xét xử không xét

[8] Đối với việc L khai đây là lần thứ hai mua ma túy của nam giới này, ngoài lời khai của L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không xử lý. Hội đồng xét xử không xét.

[9] Đối với người xe ôm và đối tượng tên Toàn, quá trình điều tra không xác định được căn cước L lịch nên không có cơ sở điều tra, làm rõ. Hội đồng xét xử không xét.

[10] Đối với xe máy BKS: 15AA-017.80 thu giữ của L, quá trình điều tra chưa xác định được rõ nguồn gốc xe, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ, xác minh, xử lý sau.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Quý L 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/4/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung màu đỏ, dạng màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 09/7/2020 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDTP Hải Phòng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố

- VKSND Quận Lê Chân;

- Công an Quận Lê Chân + PV 27;

- Bị cáo + THA phạt tù + PC81;

- Chi cục THADS Quận Lê Chân;

- UBND phường Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng;

Bùi Xuân Vinh

- Sở tư pháp;

- Lưu VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Vinh

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDTP Hải Phòng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố

- VKSND Quận Lê Chân;

- Công an Quận Lê Chân + PV 27;

- Bị cáo + THA phạt tù + PC81;

- Chi cục THADS Quận Lê Chân;

Bùi Xuân Vinh

- UBND phường Dư Hàng kênh;

- Sở tư pháp;

- Lưu VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Vinh

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ