vanban.org

Bản án 108/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trà Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Trà Văn V 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang ngày 12/8/2019. 2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trà Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trà Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2019/HSST
Ngày: 05-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim Thành

Ông Nguyễn Văn Đích

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành- Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2019/TLST- HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2019/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Trà Văn V; Tên gọi khác: Cu Bông; Sinh ngày: 19/02/1999 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ 21 phường H, quận T, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trà Văn B và bà Bùi Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/12/2012 bị Ủy ban nhân dân quận Thanh Khê áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng số 3.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 12/8/2019 có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Bùi Thị T, Sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Tổ 21 phường H, quận T, Tp Đà Nẵng. Có mặt.

2. Ông Lê Tuấn A, Sinh năm: 1989. Nơi ĐKHKTT: Tổ 06 Thị trấn Đ, huyện Đ1, tỉnh Gia Lai. Chổ ở hiện nay: Số 112 Đường N, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

3. Ông Tô Đình T, Sinh năm: 1960. Nơi cư trú: Tổ 36 (Tổ 69 cũ) phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

Ông Trần Ngọc D, Sinh năm: 1993. Nơi cư trú: Tổ 102 phường A, quận S, Tp Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 20h30 ngày 12/8/2019, Công an phường An Hải Bắc phối hợp với Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Sơn Trà tiến hành kiểm tra quán Karaoke X8 tại đường Đinh Thị Hòa, phường An Hải Bắc, phát hiện tại tầng 03 quán X8 có 01 thanh niên tên Trà Văn V đang cầm trên tay phải một gói nylong diện (5x5cm) bên trong có chứa 05 viên nén hình lục giác màu xanh trên bề mặt có chữ QP, 01 gói nylong diện (2x3cm), 01 gói nylong diện (3x3cm) bên trong có chứa chất bột dạng tinh thể màu trắng để chuẩn bị bán cho con nghiện. Sau đó cơ quan công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật.

Tang vật thu giữ:

- 01 gói nylong diện (5x5cm) bên trong có chứa:

+ 05 viên nén hình lục giác màu xanh trên bề mặt có chữ QP. Ký hiệu V1;

+ 01 gói nylong diện (2x3cm), 01 gói nylong diện (3x3cm) bên trong đều có chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Ký hiệu V2;

- Số tiền 16.200.000đồng;

- 01 xe môtô nhãn hiệu Vario màu xám BKS 43D1-828.80 (xe này Trà Văn V mượn của ông Tô Đình T), đã được trao trả cho ông Tô Đình T theo Quyết định xử lý vật chứng số 100/16.9.2019 của Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng số Imei: 353043097949070 có sim số thuê bao: 0779066367

Tại kết luận giám định số: 230/GĐ-MT ngày 21/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng xác định:

- 05 viên nén màu xanh trong mẫu ký hiệu V1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, khối lượng mẫu viên nén V1: 2,026gam.

- Chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu V2 gửi giám định là ma túy loại Katemin, khối lượng mẫu chất bột V2: 0,826gam.

Qua điều tra xác định: Vào lúc 19h30 ngày 12/8/2019, Trà Văn V nhận được điện thoại của một người không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua 05 viên ma túy thuốc lắc và 01 chỉ ma túy Ketamin với giá 6.300.000đồng giao tại quán Karaoke X8 đường Đinh Thị Hòa, phường An Hải Bắc, V đồng ý. Sau đó V dùng điện thoại của mình có số thuê bao 0779066367 liên hệ với một người bạn tên Bin (Không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 05 viên ma túy thuốc lắc và 01 chỉ ma túy Ketamin với giá 5.700.000đồng. Bin đồng ý và hẹn V đến công viên biển Phạm Văn Đồng để giao dịch. V điều khiển xe môtô BKS 43D1-828.80 đến điểm hẹn, đến nơi V đưa tiền cho Bin và lấy ma túy. Sau khi có ma túy, V cầm gói nylong có chứa ma túy bên tay phải ngồi đợi ở sảnh tầng 03 của quán Karaoke X8 để bán ma túy cho con nghiện, nhưng chưa kịp thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Ngoài ra, qua điều tra xác định vào ngày 07/8/2019, Trà Văn V nhận được điện thoại của Lê Tuấn A có số thuê bao 0905053639 gọi vào số thuê bao của mình 0779066367 hỏi mua 03 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc với giá 1.200.000đồng. V đồng ý và hẹn Lê Tuấn A đến PuP Điểm Nóng trên đường Nguyễn Tri Phương để giao dịch. Sau đó V liên hệ với Bin để hỏi mua 03 viên ma túy thuốc lắc với giá 900.000đồng. Sau khi có ma túy V giao ma túy trực tiếp cho Lê Tuấn A và nhận tiền. Lần giao dịch này V thu lợi được 300.000đồng.

Tại bản cáo trạng số: 97/CT- VKS ngày 10/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trà Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trà Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Trà Văn V từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù.

Do không xác minh được về tài sản của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trà Văn V.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong số 230/GĐ- MT ngày 21/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,937 gam ma túy loại MDMA, Methamphetamine và 0,554 gam ma túy loại Katamine là khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định.

Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước một điện thoại di động Iphone màu trắng số IMEL: 353043097949070 có sim số thuê bao: 0779066367 là công cụ, phương tiện phạm tội.

Hoàn trả cho bà Bùi Thị T số tiền 15.000.000đồng.

Truy thu sung ngân sách nhà nước 300.000đồng là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Tiếp tục quy trữ số tiền 1.200.000đồng của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Bị cáo Trà Văn V thừa nhận hành vi phạm tội của mình là hai lần bán trái phép chất ma túy. Trong đó bán cho Lê Tuấn A một lần vào ngày 07/8/2019, một lần tại quán Karaoke X8 đường Đinh Thị Hòa, phường An Hải Bắc vào ngày 12/8/2019 nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Bùi Thị T trình bày: Vào ngày 12/8/2019 bà có nhờ bị cáo Trà Văn V cất giùm cho bà số tiền 15.000.000đồng, mục đích khi nào bà cần sẽ lấy lại số tiền trên để lo viện phí cho con đang điều trị tại bệnh viện. Tại phiên tòa bà Bùi Thị T có yêu cầu xin được nhận lại số tiền trên để lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 12/8/2019, tại sảnh tầng 03 của quán Karaoke X8 đường Đinh Thị Hòa, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà bị cáo đang cầm gói nylong bên tay phải trong đó có 2,026gam ma túy loại MDMA, Methamphetamine và 0,826gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích mua bán thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Ngoài ra, vào ngày 07/8/2019 bị cáo đã bán 03 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc với giá 1.200.000đồng cho Lê Tuấn A tại PuP Điểm Nóng trên đường Nguyễn Tri Phương. Số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán ma tuý là 300.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận bị cáo Trà Văn V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, giết người ... làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, phát thanh, truyền hình ... Các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng đưa ra xét xử nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này nhằm răn đe phòng ngừa. Bị cáo Trà Văn V nhận thức rõ được những tác hại đó nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, ham chơi đua đòi, xem thường pháp luật và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã thực hiện việc cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý không những xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất ổn trong nhân dân trên địa bàn Tp Đà Nẵng nói chung và địa bàn quận Sơn Trà nói riêng.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt do bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự thú lần phạm tội trước đó.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu Vario màu xám BKS 43D1-828.80 do ông Tô Đình T đứng tên chủ sở hữu. Bi cáo mượn xe của ông Tô Đình T thì chỉ nói mượn đi chơi, ông Tô Đình T không biết việc bị cáo sử dụng xe này để làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông Tô Đình T là phù hợp pháp luật.

- 0,937 gam ma túy loại MDMA, Methamphetamine và 0,554 gam ma túy loại Katamine trong một phong bì niêm phong hoàn trả sau khi giám định số 230/GĐ- MT ngày 21/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng. Toàn bộ số vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên HĐXX tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với một điện thoại di động iPhone Iphone màu trắng số IMEL: 353043097949070 có sim số thuê bao: 0779066367 thu giữ của bị cáo có liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 16.200.000đồng thu giữ của bị cáo Trà Văn V, qua điều tra xác định có số tiền 15.000.000đồng là của bà Bùi Thị T thấy không liên quan đến vụ án nên tuyên trả lại cho bà Bùi Thị T. Số tiền 1.200.000đồng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Trong quá trình phạm tội bị cáo thu lợi bất chính 300.000đồng do mua bán ma túy mà có nên cần phải buộc bị cáo nộp số tiền trên sung ngân sách nhà nước.

Do không xác minh được về tài sản của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2019.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trà Văn V, Lê Tuấn A, Công an quận Sơn Trà đã ra Quyết định xử lý hành chính là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ nên chấp nhận. Tuy nhiên, việc trích dẫn Điều 251 Tội mua bán trái phép chất ma túy trong Cáo trạng không đúng theo quy định Điều 251 Tội mua bán trái phép chất ma túy của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần rút kinh nghiệm.

Án phí HSST: Bị cáo Trà Văn V phải chịu 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trà Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trà Văn V 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang ngày 12/8/2019.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong hoàn trả sau khi giám định số 230/GĐ- MT ngày 21/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng..

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước một điện thoại di động iPhone màu trắng số IMEI: 353043097949070 có sim số thuê bao: 0779066367 thu giữ của bị cáo Trà Văn V.

- Buộc bị cáo Trà Văn V nộp số tiền thu lợi bất chính 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.

- Trả cho bà Bùi Thị T số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Tiếp tục quy trữ số tiền 1.200.000đồng của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2019.

3/ Án phí HSST: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí HSST bị cáo Trà Văn V phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho những người tham gia tố tụng có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ