- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Vi phạm quy đi ̣nh về tham gia giao thông đườ ng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 108/2019/HS-ST Ngày: 10/9/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Hữu Bình.
2. Ông Vương Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/2019/TLST-HS, ngày 21 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2019/HSST-QĐ ngày 27/8/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Viê ̣t T, sinh ngày 21/8/1978, tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Tổ 1, phườ ng T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Văn T (đa chết) và bà Đinh Thị C; có vợ là Hoàng Thanh T̃
và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người đại diên hợp pháp của người bị hại Nguyễn Duy Đ (đã chết): Bà Dương Thị Xuân M, sinh năm 1963 (Là vợ bị hại);
Nơi cư trú: Tổ 1, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hợp tác xã vận tải ô tô T;
Địa chỉ: Tổ 2, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Do bà Đỗ Thị Mai H – Phó giám đốc đại diện. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: Tổ 8, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 23/02/2019, Nguyễn Viê ̣t T có giấy phép lái xe ô tô theo quy đi ̣nh, điều khiển xe ô tô nhan hiê ̣̃
u HYUNDAI biển kiểm soát22B-002... xe ô tô do Hợp tác xa vâ ̣̃ n tải ô tô T quản lý và giao cho T điều kh iển chở khách cha ̣y tuyến Tuyên Quang – Hà Nội. T điều khiển xe ô tô đi trên đườ ng Quang Trung hướ ng từ Nga ̃8 Trung tâm thành phố Tuyên Quang đi Nga ba Phõ
̀ng Cảnh sát giao thông tinh Tuyên Quang để đỏ
́n khách ta ̣i khu vực Km số4 đường Tuyên Quang– Hà Giang thuộc phường Ỷ La, thành phố Tuyên Quang. Khi đến khu vực tổ 16 (cũ là tổ 27), phườ ng Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang phát hiện xe mô tô biển khiển soát 22K2 – 60.. do ông Nguyễn Duy Đ điều khiển đi ở gi ữa đường cùng chiều phia trướ c, không bâ ̣t xi nhan chuyển hướ ng re phã
̉i vào đườ ng Phố Hồng
́ Thái. Do không làm chủ được tốc đô ̣, không giữ được khoảng cách an toàn đối vớ i xe cha ̣y liền trướ c xe của minh, xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào phía sau của xe
̀ mô tô do ông Đ điều khiển . Hâ ̣u quả ông Đ bi ̣ nga xuỗ
́ng đườ ng , bị thương tích được đưa vào Bê ̣nh viê ̣n đa khoa tinh Tuyên Quang cẩ
́p cứ u , sau đó điều tri ̣ ta ̣i Bê ̣nh viê ̣n Viê ̣t Đứ c Hà Nô ̣i, đến 19 giờ 45 phút ngày 05/3/2019 ông Đ chết.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số71/TT19 ngày 24/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tinh Tuyên Quang, kết luâ ̣n: Vùng đầu, mă ̣t, cổ,
̉
ngực, bụng, lưng, hai tay, hai chân có các vết sẫm màu, bầm tim, sây sát da đa đõ ́ng
́ vảy; Chấn thương so ̣ naõ : Da đinh chẩm phải sẫm màu. Tổ chứ c dướ i da đầu phù,
̉ bầm tim, tụ máu nhẹ. Chụp cắt lớp vi tính sọ não thấy hình ảnh xuất huyết dưới
́ nhê ̣n, chảy máu nao thẫ
́t bên phả, tôi ̉n thương đu ̣ng dâ ̣p, chảy máu nhu mô não thùy thái dương trái, thùy trán phải; Chấn thương cô ̣t sống cô: Vở
̃ thân đốt C4 và C5 có chèn ép ống sống cùng mức, gãy cung trước C4 và C5, gãy mỏm ngang bên phải C6; Chấn thương ngực, bụng kín: Vùng ngực bụng có nhiều vết bầm tím, sây sát da. Chụp Xquang ngực thẳng thấy hình ảnh gãy cung bên xương sườn 5, 6, 7 bên phải, gãy cung bên xương sườn 3, 4, 5 bên trái, gãy 1/3 xương đòn trái, vỡ xương bả vai trái, vỡ mỏm cùng vai bên trái. Rách động mạch mạc treo tràng trên đã mổ khâu vết rách. Dẫn lưu màng phổi hai bên. Nguyên nhân chết của ôngNguyễn Duy Đ là do: Chấn thương so ̣ nao , hôn mê sâu ngã
̀y thứ 11 trên na ̣n nhân đa chấn thương.
Biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trườ ng hồi06 giờ 15 phút ngày 23/02/2019 thể hiê ̣n tai na ̣n xảy ra ta ̣i đườ ng Quang Trung, đoa ̣n đườ ng thuô ̣c vực tổ 16 (trướ c đây là tổ 27), phườ ng Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Khám nghiệm theo hướng Ngã 8 trung tâm thành phố Tuyên Quang đi Phòng Cảnh sát giao thông, mă ̣t đườ ng nhựa, nhẵn, phẳng, không ha ̣n chế tầm nhin, mă ̣t đườ ng trơn ướ t; tại vị trí xảy ra tai
̀
nạn đường rộng 1570cm được phân chia thành hai chiều đườ ng bằng va ̣ch sơn đứ t đoa ̣n màu trắng. Tại hiện trường phát hiện các dấu vết như sau: Tại vị trí những vệt sơn trên mă ̣t đườ ng để giảm tốc độ có 01 biển số xe 22K2-60.. và chắn bùn kích thướ c 33cm x 20cm. Từ vi ̣ tri biển số xe chếch chéo 710cm vào mép đườ ng bên
́ phải, cách mép đường280cm có vùng mảnh vỡcó kích thước1068cm x 370cm. Từ vùng mảnh vỡ chếch chéo về phía lòng đường 2130cm là xe ô tô biển kiểm soát 22B-002.80. Từ xe ô tô chếch chéo về mép đườ ng phải 660cm là xe mô tô Attila nằm đổ nghiêng bên trái, trục trước của xe mô tô cách mép đường bên phải220cm, đầu xe quay hứ ng đi Phòng Cảnh sát giao thông. Cách tâm trục phía sau của xe mô tô 180cm về phia lòng đườ ng có 01 vùng máu kích thước65cm x 35cm. Tâm vùng
́ máu cách mép đường bên phải là 400cm.
Biên bản khám nghiê ̣m phương tiê ̣n liên quan đến tai na ̣n giao thông hồi15 giờ 00 phút ngày 25/02/2019, khám phương tiệ n xe ô tô biển kiểm soát 22B-002.80: Góc dưới bên phải kính chắn gió trước có vùng kính bị rạn vỡ kích thước 84cm x 62cm, tâm vùng cách mă ̣t nền 156cm. Gương cầu chiếu hâ ̣u bên phải bi ̣ mất. Mă ̣t trướ c ga lăng bên phải có vùng móp méo lõm kim loại, bong tróc sơn kich
́ thướ c 50cm x 46cm x 8cm, tâm vùng cách mă ̣t nền 112cm. Hê ̣ thống đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị vỡ hoàn toàn . Chắn đà trướ c bên phải vi ̣ tri dướ i hê ̣
́ thống đèn chiếu sáng bi ̣ móp méo biến dạng, từ tâm xuống mă ̣t nền là 58cm. Tai xe phía trước bên phải bị đẩy cong từ trước về sau, từ trái sang phải.
Biên bản khám nghiê ̣m phương tiê ̣n liên quan đến tai na ̣n giao thông hồi15 giờ 50 phút ngày 25/02/2019, khám phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 22K2-6085: Gương chiếu hâ ̣u bên trái bi ̣ mất hoàn toàn mă ̣t gương, mă ̣t sau gáo gương có vùng mài xước nhựa. Mặt trước đầu tay nắm bên trái có vùng mài rách cao su, mài mòn kim loại, mặt trướ c đầu phanh bên trai có ́ vùng mài mòn kim loa ̣. Ốp nhựi
a bảo vê ̣ đầu xe, mă ̣t na ̣ đầu xe bị bung bật khớp nối. Mă ̣t ngoài dướ i ống giảm sóc bên trái có vùng mài mòn kim loại. Xe bi ̣ gẫy gâ ̣p ta ̣i gầm xe vi ̣ tri cuối giá đ ể chân phía
́ trướ c. Toàn bộ bề mặt cánh yếm bên trái bị mài xước nhựa, ốp nhựa bảo vệ hai bên giá để chân phía trước bị bung bật khớp nối, phía trước bên trái gầm xe có vùng vỡ nhựa, toàn bộ gầm xe tiếp xúc với mặt n ền. Ốp nhựa bảo vệ sườn xe hai bên bị bung bâ ̣t khớ p nối, vỡ nhựa, để lộ các chi tiết bên trong. Tay xách phia sau bi ̣ gaỹ ,
́ vỡ nhựa. Ốp nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng phía sau, bảo vệ đuôi xe bị vỡ hoàn toàn. Biển số xe22K2-6085 cùng chắn bùn sau bị gãy rời khỏi thân xe.
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSTP ngày 19 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Vi phạm quy đi ̣nh về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Vi phạm quy đi ̣nh về tham gia giao thông đườ ng bô ̣”.
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm. Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm. Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Việt T. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sự
̀ Công an tỉnh Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt T tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường ; biên bản khám nghiệm tử thi; kết luâ ̣n giám đi ̣nh pháp y về tử thi ; biên bản khám phương tiê ̣n và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 23/02/2019, Nguyễn Viê ̣t T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 22B-002.08 đi trên đườ ng Quang Trung , hướ ng từ Nga 8 Trung tâm̃ thành phố Tuyên Quang đi Ngã ba Phòng cảnh sát giao thông tỉ nh Tuyên Quang, khi đến khu vực tổ 16 (cũ là tổ 27), phườ ng Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang phát hiện xe mô tô biển kiểm soát22K2 – 60.. do ông Nguyễn Duy Đ điều khiển đi ở giữa đường cùng chiều phía trước, không bâ ̣t xi nhan chuyển hướ ng re phã
̉i vào đườ ng Phố Hồng Thái, do không làm chủ được tốc đô ̣ , không giữ được khoảng cách an toàn xe ô tô do T điều khiển đa đâm vã
̀o phia sau của xe mô tô do ông Đ
́ điều khiển gây tai na ̣n (vi pha ̣m Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Điều 11, Điều 12 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vân tải), hậu quả ông Đ chết. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Bị cáo tự nguyê ̣n sử a chữa, bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣ khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;i bị cáo có bố được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng ba và Huy chương kháng chiến ha ̣ng nhì, bị hại có một phần lỗi khi chuyển hướ ng xe không ra tín hiệu xin đường, người đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi điều khiển xe ô tô không làm chủ được tốc đô ̣, không giữ được khoảng cách an toàn đã gây ra tai nạn làm chết người. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác và các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, xét nhân thân, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị hại có một phần lỗi khi chuyển hướ ng xe không ra tin hiê ̣u xin đườ ng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết
́ buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ, mà cho hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hành nghề lái xe ô tô, điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ gây tai nạn, thiệt hại xảy ra do lỗi của bị cáo nên cần thiết phải cấm bị cáo hành nghề trong một thời gian nhất định.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại số tiền 170.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về thiê ̣t ha ̣i củaxe ô tô biển kiểm soát22B-002... và xe mô tô biển kiểm soát 22K2-60.., đa ̣i diê ̣n Hợp tác xa vân tã
̉i ô tô T và đa ̣i diê ̣n của bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì. Nên HĐXX không xem xét giải quyết
Về phương tiện và giấy phép lái xe: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 22B-002..., 01 xe mô tô biển kiểm soát 22K2-60.., 01 giấy chứ ng nhâ ̣n kiểm đi ̣nh số 7793018 của xe ô tô biển số 22B-002..., 01 chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe ô tô số 004340 mang tên Nguyễn Viê ̣t T, 01 giấy phép lái xe ha ̣ng A 1, E số 080113000797 mang tên Nguyễn Viê ̣t T , 01 giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe mô tô số 0015375 biển số xe 22K2-60.. mang tên Nguyễn Thi ̣ H. Ngày 29/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Tuyên Quang đã trả lại cho Hợp tác xã vận tải ô tô T 01 xe ô tô biển kiểm soát22B-002..., 01 giấy chứ ng nhâ ̣n kiểm đi ̣nh số 7793018 của xe ô tô biển số22B-002..., 01 chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe ô tô số 004340 mang tên Nguyễn Viê ̣t T; ngày 29/5/2019 trả lại cho Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô biển kiểm soát 22K2-60.., 01 giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe mô tô sô0015375́
biển số xe22K2-60...
Đối với giấy phép lái xe của ô tô của bị cáo còn giá trị sử dụng nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Vi phạm quy đi ̣nh về tham gia giao thông đườ ng bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thửa thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Cấm bị cáo hành nghề lái các loại xe ô tô trong thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Giao bị cáo Nguyễn Việt T cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) giấy phép lái xe số 01 giấy phép lái xe ha ̣ng A1, E số 080113000797 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 01/02/2016 mang tên mang tên Nguyễn Viê ̣t T.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Việt T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang ; - VKSND thành phố Tuyên Quang ; - Công an thành phố Tuyên Quang; - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang; - Sở Tư pháp Tuyên Quang; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hà Hữu Bình Vƣơng Minh Tân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Mạnh Tuấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Mạnh Tuấn |