vanban.org

Bản án 108/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố ị cáo Lương Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt ị cáo Lương Minh T 13 (mười ba) tháng tù. Tổng h p với 14 (mười ốn) tháng tù của Bản án số 45/2018/HS-ST ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Buộc ị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai ản án là 27 (hai mươi ảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố ị cáo Lương Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƢƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2019/HS-ST
Ngày 16-10-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƢƠNG TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Long Thị Tuyết Mai.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Xuyến.

2. Ông Hoàng Văn Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Thụy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2019/TLST-HS, ngày 23/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2019/QĐXXST-HS, ngày 02/10/2019 đối với bị cáo:

Lƣơng Minh T, sinh ngày 08/3/1975 tại huyện B, thành phố Hải Phòng.

Nơi cư tr : Thôn L, xã Đ, huyện B, thành phố Hải Phòng; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Lương Văn T1 (đã chết) và à Nguyễn Thị X, sinh năm 1943; v : Phạm Hồng C, sinh năm 1980; con: Có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án (Bản án số 45/HS-ST ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường ộ”, tuyên phạt 14 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 28 tháng, hạn thử thách từ ngày 02/8/2018, phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngày 11/10/2018 thi hành xong án phí.

Bị cáo đang ị áp dụng iện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr , hiện tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại: Ông Trần Văn H, sinh năm 1950, tr tại: thôn T2, xã T3, huyện S, tỉnh Tuyên Quang(có đơn xin xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH vận tải K, địa chỉ: Số 3, khu tập thể Q, đường 7/3, phường T4, quận A, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang K - Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông A1 - Chức vụ: Nhân viên (có mặt).

2. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn T2, xã T3, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

- Người làm chứng: Hoàng Tuấn A2, Bế Văn T2, Viên Văn H2, La Thị M, Ma Thị D, Bế Văn S1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 06/6/2019, Lương Minh T, sinh năm 1975, tr tại thôn L, xã Đ, huyện B, thành phố Hải Phòng (T có giấy phép lái xe ô tô hạng E theo quy định) điều khiển xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03 (xe ô tô của Công ty TNHH vận tải K, địa chỉ: Số 3, khu tập thể Q, đường 7/3, phường T4, quận A, thành phố Hải Phòng) theo hướng thị trấn Sơn Dương đi xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 2C thuộc thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang do T điều khiển xe ô tô không đi đ ng phần đường quy định (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường ộ) nên va chạm với xe mô tô iển kiểm soát 22S1-202.95, do ông Trần Văn H, sinh năm 1950, tr tại thôn T2, xã T3, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển đi ngư c chiều. Hậu quả: ông Trần Văn H ị thương phải đi cấp cứu, điều trị tại ệnh viện đa khoa Hùng Vương, tỉnh Ph Thọ, xe ô tô và xe mô tô ị hư hỏng nhẹ. Kết quả đo nồng độ cồn: Trong hơi thở của Lương Minh T không có nồng độ cồn.

Quá trình kiểm tra xác minh tin áo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thu thập camera tại hiện trường và ra Quyết định trưng cầu giám định tổn hại phần trăm sức khỏe của ông Trần Văn H, yêu cầu định giá tài sản theo quy định.

Tại iên ản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng thị trấn Sơn Dương đi xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Lòng đường nhựa rộng 8,85 m; Vị trí xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03 dừng đỗ (vết 05) hàng ánh trước ên lái nằm trên phần đường ên trái, cách tâm vạch sơn giữa đường là 66 cm; ánh xe phía sau ên trong trục sau xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03 (vết 3) cách mép đường phải 5,18 m lấn sang đường ên trái là 75 cm, ánh xe phía trước ên lái xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03 (vết 4) cách mép đường phải 5,08 m lấn sang đường ên trái là 83 cm. Xe mô tô iển kiểm soát 22S1-202.95 (vết 06) đổ nghiêng ên trái, đầu xe quay hướng đi thị trấn Sơn Dương, trục trước xe mô tô cách mép đường phải 4,86 m; trục sau xe mô tô cách mép đường phải 5,02m. Tâm vùng vết màu nâu đỏ (vết 8) cách mép đường phải 5,05 m.

Kết luận giám định số 158/2019/TgT ngày 10/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận đối với ông Trần Văn H: Tổn thương dập nhu mô não: 31%; nứt, vỡ xương sọ: 08%; vỡ xương đá 16 %; vỡ xoang hàm: 11 %; Gẫy cung tiếp: 08 %; cắt đoạn hỗng tràng: 41 %; các sẹo: 08 %. Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 76 % (Bảy mươi sáu phần trăm) theo phương pháp cộng lùi. Thương tích do tác động trực tiếp với vật tầy gây nên.

Kết luận định giá tài sản số 59 ngày 22/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sơn Dương. Kết luận tại thời điểm ị thiệt hại của xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03 là 5.495.000đ (Năm triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng).

Kết luận số 60 ngày 22/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sơn Dương. Kết luận tại thời điểm ị thiệt hại của xe mô tô iển kiểm soát 22S1-202.95 là 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Tại ản cáo trạng số 107/CT-VKSSD, ngày 20/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố ị cáo Lương Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường ộ”, theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Kết th c phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương luận tội và tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong ản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên ố ị cáo Lương Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng: điểm khoản 1 Điều 260; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt ị cáo Lương Minh T từ 12 đến 15 tháng tù. Tổng h p với 14 (mười ốn) tháng tù của Bản án số 45/2018/HS-ST ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Buộc ị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai ản án từ 26 (hai mươi sáu) đến 29 (hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi thi hành án.

- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc ị cáo phải chịu án phí hình sự và tuyên quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xử ị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc xem xét hành vi của ị cáo:

Tại phiên tòa, ị cáo Lương Minh T thừa nhận ị cáo có hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Lời khai của ị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của ị cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với kết luận giám định và toàn ộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 10 giờ 50 ph t ngày 06/6/2019, trên Quốc lộ 2C thuộc địa phận thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Lương Minh T, sinh năm 1975, tr tại thôn L, xã Đ, huyện B, thành phố Hải Phòng (T có giấy phép lái xe ô tô hạng E theo quy định) điều khiển xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03 (xe ô tô của Công ty TNHH vận tải K) đi theo hướng thị trấn Sơn Dương đi xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Do T điều khiển xe ô tô đi không đ ng phần đường quy định, nên va chạm với xe mô tô iển kiểm soát 22S1-202.95 do ông Trần Văn H, sinh năm 1950, tr tại thôn T2, xã T3, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển đi ngư c chiều. Hậu quả ông Trần Văn H ị thiệt hại 76% (Bảy mươi sáu phần trăm) sức khỏe.

Bị cáo tham gia giao thông nhưng không chấp hành quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ cụ thể là: Bị cáo điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không đi đ ng phần đường quy định vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường ộ: “Điều 9: Quy tắc chung: 1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Hành vi của ị cáo Lương Minh T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại điểm khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Hành vi của ị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm vào quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường ộ, làm ảnh hưởng đến hoạt động ình thường của giao thông đường ộ, trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Do vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của ị cáo để răn đe, giáo dục ị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại ản án hình sự sơ thẩm số 45/2018/HS-ST ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử ị cáo Lương Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường ộ”, tuyên phạt 14 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 28 tháng, hạn thử thách từ ngày 02/8/2018. Trong thời gian thử thách của án treo ị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới, do vậy cần uộc ị cáo phải chấp hành hình phạt 14 tháng tù của ản án số 45/2018/HS-ST ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và tổng h p với hình phạt của ản án mới theo quy định. Lần phạm tội này của ị cáo thuộc trường h p “Tái phạm” theo quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; ị cáo đã ồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho ị hại; ị hại cũng có một phần lỗi, ị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo; ố đẻ ị cáo là ông Lương Văn T1 đư c tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt cho ị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ị cáo đã đư c phân tích ở trên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho ị cáo.

Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với ị cáo T từ 12 đến 15 tháng tù là phù h p với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội ị cáo gây ra.

Về hình phạt ổ sung: Do việc lái xe của ị cáo không đảm ảo, đã gây ra tai nạn nên cần áp dụng hình phạt ổ sung là Cấm hành nghề lái xe trong trong một thời gian nhất định đối với ị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về tính h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn iến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đ ng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn ản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đ ng người, đ ng tội, đ ng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là h p pháp.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ: 01 xe ô tô khách iển kiểm soát 15B-030.03; 01 xe mô tô iển kiểm soát 22S1-202.95 (cùng giấy tờ kèm theo) và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E mang tên Lương Minh T.

Ngày 19/6/2019 và ngày 09/8/2019 cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô và xe mô tô cùng giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu, nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô số 310074000715 ngày 23/11/2015 mang tên Lương Minh T (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án) trả lại cho ị cáo nhưng giữ lại trong thời hạn ị cáo ị cấm hành nghề lái xe để đảm ảo việc thi hành án.

Về phần dân sự: Công ty TNHH vận tải K và ị cáo Lương Minh T đã ồi thường thiệt hại cho ông H số tiền 79.600.000đ (Bảy mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng), ị hại không đề nghị gì thêm. Công ty TNHH vận tải K không yêu cầu ị cáo T phải ồi thường. Do đó, HĐXX không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo ản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đư c quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với chủ xe ô tô (Công ty TNHH vận tải K) không có lỗi trong vụ án trên nên không đề cập xử lý. Do đó, HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm khoản 1, khoản 5 Điều 260; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên ố ị cáo Lương Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt ị cáo Lương Minh T 13 (mười ba) tháng tù. Tổng h p với 14 (mười ốn) tháng tù của Bản án số 45/2018/HS-ST ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Buộc ị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai ản án là 27 (hai mươi ảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Cấm ị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ ngày ị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

2. Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên trả ị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số 310074000715 ngày 23/11/2015 (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án) nhưng giữ lại trong thời hạn ị cáo ị cấm hành nghề lái xe để đảm ảo việc thi hành án.

Chuyển 01 giấy phép lái xe ô tô số 310074000715 ngày 23/11/2015 mang tên Lương Minh T cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang để thi hành án.

3. Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại đư c quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận đư c ản án hoặc ản án đư c niêm yết.

Cỡ chữ