vanban.org

Bản án 108/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc Thành H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T. Về con chung: Giao 04 con chung là các cháu Nguyễn Minh H – sinh ngày 03/7/2002, Nguyễn Minh H – sinh ngày 31/8/2003, Nguyễn Thảo U – sinh ngày 25/4/2005, Nguyễn Quỳnh T – sinh ngày 02/6/2006 cho bà Nguyễn Thị Thanh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn NGọc Thành Hạnh ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh Thảo"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.NHA TRANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 108/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 08-8-2018
V/v: “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phương Lan Anh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tỉnh

2. Bà Nguyễn Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hà Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Trang - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 08 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 556/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Thành H – Sinh năm 1974

Nơi ĐKNKTT: 333/8 Lê Hồng Phong, Phước Long, Nha Trang, Khánh Hòa.

Hiện đang chấp hành án tại trại giam Nam Hà, Tổng cục VIII, Bộ Công An.

(Vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T – Sinh năm 1983

Địa chỉ: 124/2 Lương Định Của, Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hòa.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn (ông Nguyễn Ngọc Thành H) trình bày tại đơn khởi kiện và bản tự khai:

Tôi và chị Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện kết hôn năm 2002, đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống, do vợ chồng không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vả, mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, tôi đang phải chấp hành án nên tôi xin được ly hôn với chị Thảo để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Chúng tôi có 04 con chung là các cháu Nguyễn Minh H – sinh ngày 03/7/2002, Nguyễn Minh H – sinh ngày 31/8/2003, Nguyễn Thảo U – sinh ngày 25/4/2005, Nguyễn Quỳnh T– sinh ngày 02/6/2006. Tôi giao cả 04 con cho chị T nuôi vì hiện nay tôi đang phải chấp hành án, không thể chăm sóc các con được và cũng không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn (bà Nguyễn Thị Thanh T) trình bày tại bản tự khai và biên bản hòa giải: Tôi và chồng là anh Nguyễn Ngọc Thành H tự nguyện kết hôn năm 2002, đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Hiệp, Nha Trang, Khánh Hòa. Nay anh H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với tôi thì tôi đồng ý vì trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng, mâu thuẫn. Hiện nay anh H đang chấp hành án tại Trại giam Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam với mức án 30 năm tù nên tôi cũng muốn ly hôn để có cuộc sống riêng, an tâm nuôi dưỡng các con. Về con chung: Giữa tôi và anh H có 04 con chung là các cháu Nguyễn Minh H – sinh ngày 03/7/2002, Nguyễn Minh H – sinh ngày 31/8/2003, Nguyễn Thảo U – sinh ngày 25/4/2005, Nguyễn Quỳnh T – sinh ngày 02/6/2006, tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 04 con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh ấy đang đi tù. Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu: Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghe ý kiến trình bày của bị đơn và xem xét các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Việc ông Nguyễn Ngọc Thành H khởi kiện yêu cầu được giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T, xét yêu cầu khởi kiện của ông H là hoàn toàn đúng quy định pháp luật nên chấp nhận và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

Nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Thành H và bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T đều vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Ngọc Thành H và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau, có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Hiệp – TP.Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa vào năm 2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo như ông H trình bày thì trong quá trình chung sống, do vợ chồng không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vả, mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được, ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bản thân ông cũng đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Nam Hà, tỉnh Hà Nam nên ông yêu cầu được giải quyết ly hôn với bà T để mỗi người có cuộc sống riêng.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T cũng xác nhận trong quá trình chung sống, giữa bà và ông H thường xuyên xảy ra bất đồng, mâu thuẫn nên bà đồng ý ly hôn với ông Hđể an tâm nuôi dạy con cái.

Xét tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà T không thể hàn gắn được, bởi lẽ cả hai bên đã không còn chung sống với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và hiện nay ông Hh và bà T đều không còn tình cảm với nhau, do đó cần chấp nhận cho ông H được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc Thành H và bà Nguyễn Thị Thanh Tcó 04 con chung là các cháu Nguyễn Minh H – sinh ngày 03/7/2002, Nguyễn Minh H – sinh ngày 31/8/2003, Nguyễn Thảo U – sinh ngày 25/4/2005, Nguyễn Quỳnh T – sinh ngày 02/6/2006. Bà Nguyễn Thị Thanh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả bốn con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, ông H cũng đồng ý giao con cho bà T nuôi. Xét thấy, các con chung đều có bản tự khai trình bày nguyện vọng được ở với mẹ khi ba mẹ ly hôn, hiện nay các cháu cũng đang ở với mẹ, bản thân ông H đang phải chấp hành hình phạt tù. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của các con, cần giao các con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H do bà T không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án ông H và bà T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét về phần tài sản chung và nợ chung, nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Thành H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc Thành H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.

2. Về con chung: Giao 04 con chung là các cháu Nguyễn Minh H – sinh ngày 03/7/2002, Nguyễn Minh H – sinh ngày 31/8/2003, Nguyễn Thảo U – sinh ngày 25/4/2005, Nguyễn Quỳnh T – sinh ngày 02/6/2006 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H do bà T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét về phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, nếu sau này các đương sự trong vụ án Hôn nhân gia đình có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Thành Hạnh phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0008891 ngày 16/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Ông H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ